Dhammapada – Kinh Lời Vàng

15/02/2013 | Chuyên mục: KINH . 24299 Lượt xem

Chương XXVI

BRĀHMAṆAVAGGA

(Phẩm Bà-la-môn) (1)

 

 

383.
Hỡi này! Người bà-la-môn!
Hãy mau tinh tấn, cắt dòng mà đi!
Bao nhiêu ái dục viễn ly
Không còn tạo tác, vô vi, vô hành!

Chinda sotaṃ parakkamma
kāme panuda brāhmaṇa,
saṅkhārānaṃ khayaṃ ñatvā
akataññūsi brāhmaṇa.

 

384.
Khi người tuệ, định đủ đầy
Bờ kia sẽ đạt, ở đây, tức thì!
Bao nhiêu thằng thúc đoạn ly
Bà-la-môn đã liễu tri tỏ tường!

Yadā dvayesu dhammesu
pāragū hoti brāhmaṇo,
Athassa sabbe saṃyogā
atthaṃ gacchanti jānato.

 

385.
Bên này sông, bên kia sông,
Cả hai không có, cũng không bờ nào!
Thoát ly phiền não buộc rào
Bà-la-môn gọi, đúng sao, danh người!

Yassa pāraṃ apāraṃ vā
pārāpāraṃ na vijjati,
vītaddaraṃ visaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

386.
Tu thiền ly nhiễm, vô trần
Sống đời ẩn dật, tinh cần sớm hôm
Hoàn thành mục đích chánh chơn
Như Lai gọi, bà-la-môn, chính người!

Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ
katakiccamanāsavaṃ,
uttamatthaṃ anuppattaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

387.
Mặt trời chiếu sáng ban ngày
Mặt trăng soi rạng nước mây đêm dài
Gươm đao, nhung giáp ngời ngời
Đức vua, quân lính khắp nơi trận tiền
Bà-la-môn lúc định thiền
Ánh sáng rực rỡ xóa miền tối đen
Nhưng vinh hạnh suốt ngày đêm
Hào quang đức Phật vô biên, vô ngần!

Divā tapati ādicco
rattiṃ ābhāti candimā,
sannaddho khattiyo tapati
jhāyī tapati brāhmaṇo,
atha sabbamahorattiṃ
buddho tapati tejasā.

 

388.
Dứt ác gọi bà-la-môn
Sống đời an tịnh – sa-môn chính là!
Tự mình cấu uế lìa xa,
Tu sĩ ẩn dật, “xuất gia”, đúng từ!

Bāhitapāpo’ti brāhmaṇo
samacariyā samaṇo’ti vuccati,
pabbājayamattano malaṃ
tasmā ‘‘pabbajito’’ti vuccati.

 

389.
Đánh đập Phạm Chí (2), không nên!
Phạm Chí đánh trả không kềm nổi sân!
Người đánh xấu hổ một phần
Còn người đánh lại, nhiều lần xấu hơn!

Na brāhmaṇassa pahareyya
n’āssa muñcetha brāhmaṇo,
dhī brāhmaṇassa hantāraṃ
tato dhī yassa muñcati.

 

390.
Phạm Chí không trả thù ai
Là điều lợi ích lâu dài về sau!
Khi dứt ái luyến, vọng cầu
Tâm hại chận đứng, khổ sầu tự tiêu!

Na brāhmaṇassetadakiñci seyyo
yadā nisedho manaso piyehi,
yato yato hiṃsamano nivattati
tato tato sammatimeva dukkhaṃ.

 

391.
Với người ba nghiệp ác xa
Là thân khẩu ý ôn hòa, vô vi
Ngày đêm tỉnh giác hộ trì
Bà-la-môn ấy, đúng vì danh xưng!

Yassa kāyena vācāya
manasā n’atthi dukkaṭaṃ,
saṃvutaṃ tīhi ṭhānehi
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

392.
Hiểu thông giáo pháp nhờ ai
Từ bậc Toàn Giác, Như Lai giáo truyền
Như Phạm Chí thờ lửa thiêng
Ta phải thành kính khắc tên đá vàng!

Yamhā dhammaṃ vijāneyya
sammāsambuddhadesitaṃ,
sakkaccaṃ taṃ namasseyya
aggihuttaṃ’va brāhmaṇo.

 

393.
Chẳng vì bện tóc, thọ sanh
Chẳng vì giai cấp, thanh danh gia đình
Với ai chánh hạnh, tuệ minh,
Bà-la-môn ấy, xứng vinh gọi là!

Na jaṭāhi na gottena
na jaccā hoti brāhmaṇo,
yamhi saccañca dhammo ca
so sucī so ca brāhmaṇo.

 

394.
Người ngu kia có ích gì,
Đầu thì bện tóc, áo thì da dê?!
Bên trong ác uế, u mê
Bên ngoài trang sức nếp nề chơn tu!?

Kiṃ te jaṭāhi dummedha
kiṃ te ajinasāṭiyā,
abbhantaraṃ te gahanaṃ
bāhiraṃ parimajjasi.

 

395.
Đắp y vải lượm bên đường
Gân xanh lồ lộ, trơ xương, ốm gầy
Rừng sâu, thiền định tháng ngày
Cô đơn Phạm Chí, ai tày danh xưng?

Paṃsukūladharaṃ jantuṃ
kisaṃ dhamanisanthataṃ,
ekaṃ vanasmiṃ jhāyantaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

396.
Phải đâu do mẹ cha sanh
Thai bào dòng giống mà thành bla-môn?
Nó chỉ là tên gọi suông
Níu đeo cấu uế, nối guồng dục tham
Không phiền não, chẳng buộc ràng
Mới là Phạm Chí, dự hàng chân tu!

Na cāhaṃ brāhmaṇaṃ brūmi
yonijaṃ mattisambhavaṃ,
bhovādi nāma so hoti
sace hoti sakiñcano,
akiñcanaṃ anādānaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

397.
Cắt đứt rễ má, dây mơ
Đoạn lìa trói buộc, chẳng lo sợ gì
Vượt xa dính mắc hữu vi
Như Lai sẽ gọi, đúng vì bla-môn!

Sabbasaṃyojanaṃ chetvā
yo ve na paritassati,
saṅgātigaṃ visaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

398.
Bỏ dây nọng (3), bỏ dây cương (4)
Đai da cùng với sợi thừng thèo leo! (5)
Đập tan trục, chốt buộc đeo (6)
Bla-môn, Phạm Chí – tên theo đúng người!

Bỏ dây cương, bỏ đai da
Bỏ luôn dây nọng, giết Ma ngủ ngầm!
Đập tan trục, chốt ngu đần
Làm người sáng suốt, dự phần bla-môn!

Chetvā naddhiṃ varattañ ca
sandānaṃ sahanukkamaṃ,
ukkhittapalighaṃ buddhaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

399.
Người không tức giận bao giờ
Trước lời phỉ báng: Lặng tờ, nín thinh!
Dẫu cho roi trượng phạt hình
Lấy đức nhẫn nại làm binh hộ phòng
Tâm từ rải khắp hư không,
Những kẻ như vậy, xứng dòng bla-môn!

Akkosaṃ vadhabandhañca
aduṭṭho yo titikkhati,
khantībalaṃ balānīkaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

400.
Người mà vô hận, vô sân
Làm tròn bổn phận, tự tâm, tự điều
Là thân cuối, sống tiêu diêu
Đúng bậc Phạm Chí, chẳng nhiều lắm đâu!

Akkodhanaṃ vatavantaṃ
sīlavantaṃ anussadaṃ,
dantaṃ antimasārīraṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

401.
Lá sen chẳng giữ mưa sa
Đầu kim chẳng dính hạt hoa cải vàng
Vô y, vô nhiễm thế gian
Những người như vậy, xứng làm bla-môn!

Vāri pokkharapatte va
āraggeriva sāsapo,
yo na limpati kāmesu
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

402.
Ở đây, ở thế gian này
Ai người thấy khổ, diệt ngay khổ sầu
Bỏ gánh nặng xuống bên cầu
Sống đời siêu thoát, đứng đầu bla-môn!

Yo dukkhassa pajānāti
idheva khayamattano,
pannabhāraṃ visaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

403.
Người có trí tuệ thâm sâu
Nẻo tà, đường chánh – đâu đâu cũng rành
Đạt thông tối thượng pháp hành
Những người như vậy, trọn lành bla-môn!

Gambhīrapaññaṃ medhāviṃ
maggāmaggassa kovidaṃ,
uttamatthamanuppattaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

404.
Xuất gia, thế tục hai hàng
Đến đi chẳng luyến, dặm ngàn thong dong
Cô đơn, thiểu dục bên lòng
Như Lai sẽ bảo, xứng dòng bla-môn!

Xuất gia, cư sĩ chẳng thân
Non xanh vô ngại, dặm trần an như
Gió xao chẳng gợn tâm tư
Cô đơn, thiểu dục, đúng từ bla-môn!

Asaṃsaṭṭhaṃ gahaṭṭhehi
anāgārehi cūbhayaṃ,
anokasāriṃ appicchaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

405.
Trượng đao vị ấy bỏ rồi
Chúng sanh vô hại, với đời vô sân
Cũng không xúi bẫy hại ngầm
Lòng từ quảng đại, chẳng lầm bla-môn!

Nidhāya daṇḍaṃ bhūtesu
tasesu thāvaresu ca,
yo na hanti na ghāteti
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

406.
Thân thiện giữa đám nghịch thù
Với người hung dữ, ôn nhu, ôn hòa
Sống vô nhiễm giữa trần sa
Những vị như vậy, chính là bla-môn!

Aviruddhaṃ viruddhesu
attadaṇḍesu nibbutaṃ,
sādānesu anādānaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

407.
Tham sân chẳng dính vào lòng
Ngã kiêu, tật đố thảy dòng nước trôi
Hạt cải kia – đầu kim rơi!
Những người như vậy, sống đời bla-môn!

Yassa rāgo ca doso ca
māno makkho ca pātito,
sāsaporiva āraggā
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

408.
Nói lời chẳng mất lòng ai
Dựng xây, chân thật, hòa hài, ôn nhu
Nói lời thâm thiết, bi từ
Bla-môn là vậy, đúng như danh người!

Akakkasaṃ viññāpaniṃ
giraṃ saccaṃ udīraye,
yāya nābhisaje kañci
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

409.
Vật kia dầu ngắn hay dài
Dầu to hay nhỏ của ai chẳng màng
Xấu, tốt không lấy, không ham
Những bậc như vậy, xứng làm bla-môn!

Yodha dīghaṃ va rassaṃ vā
aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ,
loke adinnaṃ nādiyati
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

410.
Rỗng không, chẳng một hy cầu
Đời này, đời kế chẳng đâu bận lòng
Thảnh thơi, siêu thoát trần hồng
Những người như vậy, đúng dòng bla-môn!

Āsā yassa na vijjanti
asmiṃ loke paramhi ca,
nirāsāsaṃ visaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

411.
Người mà tham ái tiêu vong
Do nhờ trí tuệ đoạn lòng hoài nghi
Thể nhập bất tử, vô vi
Như Lai sẽ gọi, đúng vì bla-môn!

Yassālayā na vijjanti
aññāya akathaṃkathī,
amatogadhamanuppattaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

412.
Người đã vượt thoát hai điều
Cả thiện và ác, tiêu diêu cõi ngoài
Không bụi bặm, chẳng sầu ai
Những người như vậy, trí tài bla-môn!

Yodha puññañca pāpañca
ubho saṅgamupaccagā,
asokaṃ virajaṃ suddhaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

413.
Lòng kia không bợn, sạch làu
Sáng trong, vắng lặng, vui sầu chẳng xao
Ái và thủ, hữu vẫy chào
Bla-môn là vậy, ai nào khác đâu!

Candaṃva vimalaṃ suddhaṃ
vippasannamanāvilaṃ,
nandībhavaparikkhīṇaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

414.
Vũng lầy nầy đã bước ra (7)
Con đường nguy hiểm thoát xa hồi nào (8)
Đại dương đời sống dạt dào (9)
Xuyên qua, đi khỏi ba đào sân si (10)
Cắt lìa ái dục, hoài nghi
Tịch tịnh, vô trước, thoát ly mọi miền
Chẳng còn đâu nữa “tùy miên”
Những bậc như vậy, vinh hiền bla-môn!

Yo imaṃ palipathaṃ duggaṃ
saṃsāraṃ mohamaccagā,
tiṇṇo pāragato jhāyī
anejo akathaṃkathī,
anupādāya nibbuto
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

415.
Ai người bỏ dục đi ra
Khước từ đời sống căn nhà thế gian
Dục, hữu – đốt cháy tiêu tan!
Những bậc như vậy, dự hàng bla-môn!

Yodha kāme pahantvāna
anāgāro paribbaje,
kāmabhavaparikkhīṇaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

416.
Ai người bỏ ái đi ra
Khước từ đời sống căn nhà thế gian
Ái, hữu – đốt cháy tiêu tan
Những bậc như vậy, đồng hàng bla-môn!

Yodha taṇhaṃ pahantvāna
anāgāro paribbaje,
taṇhābhavaparikkhīṇaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

417.
Lìa xa ràng buộc cõi người
Lìa luôn dính mắc cõi trời cao sang
Thoát bao cám dỗ huy hoàng
Những bậc như vậy, ngồi hàng bla-môn!

Hitvā mānusakaṃ yogaṃ
dibbaṃ yogaṃ upaccagā,
sabbayogavisaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

418.
Thản nhiên: Ưa, ghét – hai bờ! (11)
Sanh y (12) lìa đoạn, lặng tờ tâm tư
Thế gian (13), chiến thắng trượng phu!
Bla-môn tên gọi, cho dù là ai!

Hitvā ratiñca aratiñca
sītibhūtaṃ nirūpadhiṃ,
sabbalokābhibhuṃ vīraṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

419.
Là người hiểu biết hoàn toàn
Sự sống, sự chết các hàng chúng sanh
Không ái luyến, đào thoát nhanh
Tự mình giác ngộ, xứng dành bla-môn!

Cutiṃ yo vedi sattānaṃ
upapattiñca sabbaso,
asattaṃ sugataṃ buddhaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

420.
Đã lậu tận, dứt sanh y
Chấm dứt thọ mạng ra đi phương nào?
Chư thiên dẫu thấp hay cao
Dạ-ma, nhân loại biết sao mà lần?
Là La-hán, là Thánh Nhân,
Là bậc tối thượng, xuất trần bla-môn!

Yassa gatiṃ na jānanti
devā gandhabbamānusā,
khīṇāsavaṃ arahantaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

421.
Ai mà quá, hiện, vị lai
Sống không sở hữu, trong ngoài sạch lau
Sạch lau cũng chẳng mắc câu
Những người như vậy, đứng đầu bla-môn!

Yassa pure ca pacchā ca
majjhe ca n’atthi kiñcanaṃ,
akiñcanaṃ anādānaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

422.
Ví như trâu chúa kiên hùng
Đại sĩ, vô úy, vô cùng quý cao
Bậc chiến thắng cả trần lao
Tuệ tri, giác ngộ – khác nào bla-môn!

Usabhaṃ pavaraṃ vīraṃ
mahesiṃ vijitāvinaṃ,
anejaṃ nhātakaṃ buddhaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

423.
Ai đời trước thấy rõ ràng
Cảnh khổ đọa xứ, cảnh nhàn chư thiên
Đã tận sanh diệt các miền,
Trí tuệ cao viễn tự viên, tự thành
Mâu-ni, đạo sĩ đã đành
Là bậc Bất Tử, tên dành bla-môn!

Pubbenivāsaṃ yo vedi
saggāpāyañca passati,
atho jātikkhayaṃ patto
abhiññāvosito muni,
sabbavositavosānaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

 

BỐ THÍ, PHÁP THÍ VÔ SONG
HƯƠNG THƠM THÙ THẮNG
CHẲNG ĐỒNG PHÁP HƯƠNG
BẬC TRÍ BIẾT CÁCH CÚNG DƯỜNG
KIẾN TRI CHƠN CHÁNH
CON ĐƯỜNG PHÚC VINH!

 

______________________________________

Chú thích:

 

(1) Trong phẩm nầy, từ brāhmaṇa (bà-la-môn) đồng nghĩa với samaṇa (sa-môn) đều là bậc thanh tịnh, vắng lặng – ở đây đức Phật muốn chính danh lại nghĩa đúng đắn của một bà-la-môn chơn chánh, do vào thời ấy, giới bà-la-môn đã hành trì quá sai lạc.

(2) Là một cách phiên âm khác của brāmaṇa.

(3) Tà kiến

(4) Sân hận

(5) Luyến ái.

(6) Tuỳ miên kiết sử và vô minh.

(7) Vũng lầy tham ái.

(8)Con đường dục vọng.

(9) Vòng luân hồi trầm luân sinh tử.

(10) Xuyên qua, vượt thoát 4 dòng lũ: Dục lậu đưa đến dục bạo lưu (kāmogho); hữu lậu đưa đến hữu bạo lưu (bhavogho); kiến lậu đưa đến kiến bạo lưu (diṭṭhogho); vô minh đưa đến vô minh bạo lưu (avijjogho).

(11) Ưa thuộc tham, ghét thuộc sân; tham sân là gốc của ái (taṇhā).

(12) Nương tựa mà sanh khởi, bám víu vào đời sống

(13) Loka: Thế gian, nội giới cũng như ngoại giới; ở đây hàm chỉ ngũ uẩn.