Dhammapada – Kinh Lời Vàng

15/02/2013 | Chuyên mục: KINH . 25023 Lượt xem

Chương XVI

PIYAVAGGA

(Phẩm Thương, Ái) (1)

 

 

209.
Đáng làm thì lại bỏ quên
Chăm chuyên những việc chẳng nên chút nào
Thả cho dục vọng tuôn trào
Quên mục đích chính, lội vào dòng mê!
Đã không cố gắng quay về
Lại còn ganh tị, cười chê người hiền!

Chánh chơn thì lại bỏ bên
Chăm chuyên những việc chẳng nên chút nào!
Xa mục đích, dục tuôn trào
Chạy theo những việc tào lao giữa đời
Lại còn dè bỉu, ỉ ôi
Tỵ ganh những bậc chẳng rời hướng tu!

Ayoge yuñjamattānaṃ
yogasmiñ ca ayojayaṃ,
atthaṃ hitvā piyaggāhī
pihetattānuyoginaṃ.

 

-210-
“Thương yêu” thì chớ tìm gần
Kẻ mình chẳng thích, phải cần tránh mau!
Người thương không gặp thì sầu
Còn kẻ mình ghét, mày chau ích gì!

Mā piyehi samāgañchi (2)
appiyehi kudācanaṃ,
piyānaṃ adassanaṃ dukkhaṃ
appiyānañca dassanaṃ.

 

211.
Vậy nên chớ có thương ai
Thương người mà phải xa người, khổ thay!
Ghét, yêu – ái khởi, duyên bày
Lìa được yêu, ghét – cởi dây buộc ràng!

Tasmā piyaṃ na kayirātha
piyāpāyo hi pāpako,
ganthā tesaṃ na vijjanti
yesaṃ n’atthi piyāppiyaṃ.

 

212.
“Thân yêu” sinh bệnh phiền ưu
Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề
Không thân yêu, chẳng thích mê
U sầu, sợ hãi – ê chề trốn xa!

Piyato jāyatī soko
piyato jāyatī bhayaṃ,
piyato vippamuttassa
n’atthi soko kuto bhayaṃ.

 

213.
“Trìu mến” sinh bệnh phiền ưu
Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề
Không trìu mến, chẳng thích mê
U sầu, sợ hãi – cận kề được đâu!

Pemato jāyatī soko (3)
pemato jāyatī bhayaṃ,
pemato vippamuttassa
n’atthi soko kuto bhayaṃ.

 

-214-
“Luyến ái” sinh bệnh phiền ưu
Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề
Không luyến ái, chẳng đắm mê
U sầu, sợ hãi – chúng chê dở mồi!

Ratiyā jāyatī soko (4)
ratiyā jāyatī bhayaṃ,
ratiyā vippamuttassa
n’atthi soko kuto bhayaṃ.

 

215.
“Tham dục” sinh bệnh phiền ưu
Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề
Không tham dục, chẳng đắm mê
U sầu, sợ hãi – chán chê chẳng gần!

Kāmato jāyatī soko (5)
kāmato jāyatī bhayaṃ,
kāmato vippamuttassa
n’atthi soko kuto bhayaṃ.

 

216.
“Dục ái” sinh bệnh phiền ưu
Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề
Không dục ái, chẳng đắm mê
U sầu, sợ hãi – đã thề viễn ly!

Taṇhāya jāyatī soko (6)
taṇhāya jāyatī bhayaṃ,
taṇhāya vippamuttassa,
n’atthi soko kuto bhayaṃ.

 

217.
Giới đức, trí giác trọn lành
Kiên cố giáo pháp, đạo hành viên dung
Làm xong công việc cuối cùng
Trời, người ái kính, đón mừng hân hoan!

Sīladassanasampannaṃ
dhammaṭṭhaṃ saccavedinaṃ,
attano kamma kubbānaṃ
taṃ jano kurute piyaṃ.

 

218.
Nguyện thành quả vị “ly ngôn” (7)
Chẳng còn xúc động, “thánh môn đầu dòng” (8)
Tế vi các ái tiêu vong
Những bậc như vậy xứng đồng “thượng lưu”! (9)

Chandajāto anakkhāte
manasā ca phuṭo siyā,
kāmesu ca appaṭibaddhacitto
uddhaṃsoto’ti vuccati.

 

219.
Lâu ngày làm khách ly hương
An toàn trở lại hỏi đường về thăm
Bà con quyến thuộc xa gần
Bạn bè hoan hỷ, thôn lân đón chào.

Cirappavāsiṃ purisaṃ
dūrato sotthimāgataṃ,
ñātimittā suhajjā ca
abhinandanti āgataṃ.

 

220.
Ví người hành thiện khác nào
Đời này, đời nọ xiết bao phước dành!
Đón đưa tốt đẹp, an lành
Bà con thân thuộc, chân thành mừng vui!

Tatheva katapuññampi
asmā lokā paraṃ gataṃ,
puññāni paṭigaṇhanti
piyaṃ ñātim’va āgataṃ.

 

____________________________________________

Chú thích:

 

(1) Cần phân biệt một số từ có từ gốc “Ái”, đó là piya, pema, rati, rāgī, rāga, kāma, taṇhā…  Piya, pema thường dùng trong nghĩa thương yêu, trìu mến, thân yêu, thương mến, yêu quý, yêu mến… là những tình cảm tốt đẹp trong đời thường như cha mẹ, vợ con, bằng hữu, xóm làng, quê hương… Rati, rāgī, rāga được dùng khi tình cảm đã sâu nặng, như quyến luyến, luyến thương, ái luyến đưa đến dục tình, tình dục… Kāma thì thuộc về tất cả dục ngũ trần, thuộc dục giới. Taṅhā là ái, ái dục nằm trong 12 duyên khởi; khi nó thích thì yêu, thương, tham – khi không thích thì sinh ra ghét, chán, sân. Tuy nhiên, dù thương, dù ái kiểu gì thì cũng đem đến buộc ràng, đau khổ… như tham, thương nhiều thì khổ nhiều; tham, thương ít thì khổ ít vậy (Đây là sự thấy biết riêng, có tính chủ quan của soạn giả, có thể chưa được chính xác hoặc có một vài sai sót nào đó, xin các bậc thức giả, trí giả hiểu cho).

(2) Piya: Thân yêu, yêu quý, thương mến…(có từ gốc Ái dục – taṇhā); nó là tình thường trong đời sống, chưa quá đà, chưa có tội lắm, nhưng cũng phát sanh khổ (Người biên soạn).

(3) Pema: Thương yêu, trìu mến…; cũng có từ gốc taṇhā – ái dục; là tình cảm tốt trên cuộc đời như thương vợ, thương con; chưa có tội lắm nhưng cũng đưa đến phiền não (Người biên soạn).

(4) Rati: Luyến ái, phát sanh dục tình – có từ gốc Ái dục – taṇhā, từ đây mới phát sanh vấn đề cần phải được nhìn ngắm. Cao hơn một cấp độ nữa là Rāga: Tình dục, gốc của luân hồi (Người biên soạn).

(5) Kāma: Tham muốn thoả mãn ngũ dục, nói chung là cõi dục giới, có từ gốc Ái dục – taṇhā.

(6) Taṇhā: Ái Dục, nằm trong 12 duyên khởi, gốc của sinh tử luân hồi. Từ Taṇhā này, cái gì được thì tham, thương; cái gì không được thì sân, ghét.

(7) Chỉ Niết-bàn.

(8) Chỉ 3 quả vị đầu là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm.

(9) Chỉ A-la-hán.