Năng Lực Thực Sự Của Nước

16/02/2013 | Chuyên mục: SÁCH . 9635 Lượt xem

 

CHƯƠNG BA

Nước Phục Hồi Năng Lực Sống

 

 

 Thu thập những thông tin về bệnh

Với thiết bị đo hađô, chúng tôi có thể đo hađô của một người cảm thấy ốm và phát hađô ra để điều chỉnh sự rung động bất thường ấy. Khi sự rung động riêng của người bệnh được mang trả lại, cá nhân đó có thể phục hồi sức khỏe. Để đưa nguyên tắc nầy vào hoạt động, tôi trở nên nhà giải phẫu của thiết bị nầy để kiểm tra thông tin hađô của nhiều người.
Một hôm, một người quen viếng thăm tôi. Ông ấy nói, “đây là tóc của con gái bạn tôi. Anh có thể vui lòng phân tích nó không?” Ông đưa sợi tóc mà không kể cho tôi nghe điều gì về sức khỏe của cô ta cả. Có lẽ ông ấy muốn tôi làm xét nghiệm trên sợi tóc nầy.
Trong khi ông ấy chờ, tôi sử dụng thiết bị nầy để khảo sát sợi tóc. Một giờ sau, tôi tường thuật kết quả những gì tôi vừa tìm thấy:
– Giá trị cộng hưởng của toàn não bộ cực thấp.
– Khắp cơ thể đều có thể thấy sự bất bình thường trong giá trị cộng hưởng.
– Khắp cơ thể đều có thể quan sát độc tố “chì” được xem như là nguyên nhân của những triệu chứng ấy.
Sau khi nghe những điều tôi nói, ông ấy trình bày thông tin về con gái của bạn ông. Mười năm qua cô đã từng đi đến khoa tâm thần của bệnh viện trường đại học. Cô nhập viện rồi xuất viện hoài. Cô được mang đi kiểm tra chi tiết cụ thể nhiều lần, nhưng họ không tìm được ra nguyên nhân nào.
Bởi vì không biết nguyên nhân, sức khỏe cô ta không thể tiến triển. Trong thất vọng, cha cô nghĩ là ông nên thử thuốc khác cho cô và ông hỏi người quen tôi và được giới thiệu thuốc hađô.
Cha cô rất quan tâm đến sức khỏe yếu kém của con gái. Mặc dầu ông yêu cầu ông nầy lấy tóc cô đưa cho tôi, dường như ông chẳng nghĩ gì nhiều về thiết bị có thể làm cho con gái ông.
Hôm sau, tôi nhận một cú điện thoại từ ông ấy, ông xúc động báo tôi rằng, người cha không nói nên lời khi nghe tường thuật về độc tố “chì” trong não. Ông nói: “Giờ mới vỡ lẽ vấn đề, là từ lâu, trong nhà chúng tôi vẫn dùng ống chì trong hệ thống dẫn nước”.
Ngày hôm sau, người cha nửa tin, nửa ngờ, đem vợ và con gái ông ghé văn phòng tôi. Ông cũng mang nước vòi từ nhà đến. Con gái ông không giống như người đau tâm thần. Cô trông rất sạch sẽ và gọn gàng. Cô ta đẹp, sắc diện không thấy có vấn đề – nhưng nghe nói, thỉnh thoảng có hoang tưởng.
Nhờ thiết bị đo hađô, tôi khảo sát cô gái và cha mẹ cô. Kết quả tương tự như khi đo tóc cô ta, phát hiện độc tố chì rất mạnh trong cơ thể cô. Dụng cụ chỉ cho biết con số 12/21. Thiết bị hađô đoán như một phân số có mẩu số là 21 và tử số là 12. Vậy, 12/21 nghĩa là tỷ số chì cao hơn một nửa. Tỷ số chì của cha mẹ cô là 9/21.
Vấn đề là nước vòi của họ. Việc phân tích của tôi tiết lộ cho biết phân số 12/21, là hàm lượng độc tố chì trong nước cực mạnh.
Căn cứ trên những kết quả tìm được, tôi nói với gia đình đang băn khoăn nầy: “Bệnh trạng của cô dường như không phải là vấn đề tâm thần. Tôi nghi đó là do nguyên nhân tích lũy ‘chì’ quá mức ở trong não”. Hôm ấy, tôi sẽ không bao giờ quên sự bày tỏ biết ơn của gia đình khi họ nghe tôi nói. Trông họ bây giờ đã tỏ ra thanh thản. Thật dễ hiểu, bởi vì cuối cùng họ đã tìm ra bệnh trạng đau khổ lâu nay của con gái không phải do vấn đề tâm thần. Họ đã biết rõ nguyên nhân.
Cha mẹ cô quyết định thay ống dẫn nước bằng chì ngay. Họ cũng yêu cầu, liệu tôi có thể giúp dời độc tố chì ra khỏi não của họ bằng thiết bị hađô hay không. Tôi trả lời: “Tôi không thể để mình bị liên can đến việc điều trị y khoa – vì tôi không phải là bác sĩ. Tuy nhiên, tôi có thể giúp ông hủy bỏ hađô của độc tố chì gây ra căn bệnh. Trong thuật ngữ của cấu trúc phân tử, đó là nước thông thường; tuy nhiên, tôi có thể làm nước có những rung động cần thiết”.
Cả hai cha mẹ và con gái họ chấp nhận lời giải thích của tôi, vì vậy tôi làm nước hađô có thể hủy độc tố chì cho họ. Cô con gái sốt sắng uống nước trong hai tháng. Kết quả mức độc tố chì ban đầu tỷ số là 12/21 nó giảm xuống chỉ còn 2/21.
Có lẽ như là phản ứng với sự giảm nhanh độc tố chì trong người nên cô con gái không thể ngủ được tí nào trong bốn hay năm đêm liền. Tuy nhiên, sức khỏe cô tiến triển tốt, như được bác sĩ của cô ở bệnh viện trường đại học chứng nhận.
Đoạn nầy có tiếp theo. Trong lúc tôi hài lòng có thể giúp cô con gái nầy, việc bất ngờ vừa xảy ra nầy làm tôi nhận ra năng lực và tai hại của nước – cụ thể là nước vòi trong lúc ấy.
Sau khi tham khảo ý kiến giữa cha mẹ cô gái và tôi, chúng tôi yêu cầu một tổ chức công cộng phân tích chi tiết phẩm chất nước vòi được lấy từ hệ thống dẫn nước bằng ống chì trong gia đình họ. Mười ngày sau chúng tôi nhận được kết quả. Trong chừng mức nào đó tôi biết trước kết quả, nhưng bản báo cáo cho thấy một sự thực khủng khiếp hơn. Nước vòi trong nhà nầy bị đánh dấu “quá”, ngay cả trong loại của chì.
Mặc dầu chì không được phát hiện ở mức phân tử, nhưng tôi tin nó có ở đó, ở mức hạ nguyên tử. Tôi giải thích trường hợp nầy như sự hạn chế của việc phân tích nước hiện hành tại văn phòng cơ quan công cộng.
Nước không thể hút trực tiếp độc tố chì; tuy nhiên, ắt phải lấy hađô nó vì nó làm hại chúng ta. Nước nhận thông tin của độc tố chì vào. Khi cô con gái uống nước có thông tin độc tố nầy, sự rung động trong cơ thể cô bị quấy nhiễu. Kết quả cô phải chịu đau khổ, tưởng là bệnh tâm thần mà không biết nguyên nhân xuất phát.
Như tôi đã đề cập trước, nước mang nhận thông tin. Thông tin có thể tích cực hay tiêu cực. Bởi vì chúng ta là nước, cơ thể chúng ta chắc chắn đáp ứng với thông tin được mang vào do nước chúng ta uống. Khi chúng ta nhận thông tin tích cực từ nước, chúng ta trở nên mạnh khỏe hơn. Khi chúng ta nhận thông tin tiêu cực, chúng ta phát bệnh.

Danh tánh người và hình ảnh mang thông tin bệnh tật của họ

Tùy theo thông tin trên lời – lời nói qua chữ viết – chúng ta bày cho nước thấy, nước có thể hay không thể hình thành tinh thể nước đá. Tôi chứng tỏ điều nầy nhờ chụp hình tinh thể nước. Để chứng minh cho giả thuyết của tôi rằng, nước thay đổi tùy thuộc vào thông tin được cho nó, tôi tiếp tục chụp hình những tinh thể nước.
Cảm giác thông thường báo chúng tôi nghi ngờ rằng nước thấy thông tin và tự thay đổi cho thích hợp. Trái lại, từ khi tôi để hết tâm trí vào nhiều thí nghiệm sử dụng thiết bị hađô, tôi thường gặp phải những tình huống không thể giải thích được mà không có giả thuyết nầy làm cơ sở. Để tôi cho một ví dụ.
Chẳng bao lâu sau khi tôi bắt đầu giúp người ta phục hồi sức khỏe họ với thuốc hađô, một người đàn ông đến gặp tôi. Người con gái hai mươi tuổi của bạn ông đã được chẩn đoán bệnh bướu bạch huyết. Cha cô đã mất cùng bệnh nầy cách đây nhiều năm. Hơn nữa ông nội của cô cũng qua đời cùng một căn bệnh. Cả hai người đều là bác sĩ y khoa. Người đàn ông đến gặp tôi bởi vì không hiểu sao ông sốt sắng giúp cô gái nầy. Người phụ nữ trẻ là sinh viên y khoa. Cô đã trải qua phẫu thuật tại bệnh viện trường đại học của cô, và cô vẫn còn nằm bệnh viện để hóa trị. Trường hợp nầy đặt tôi vào một tình huống khó khăn. Tôi đã từng dùng thiết bị đo hađô để thu thập tin tức từ những người có sự rung động bị quấy nhiễu và làm nước hađô để hủy những quấy nhiễu nầy và điều chỉnh sự rung động trong cơ thể họ. Nhưng làm sao có thể lấy thông tin từ một người đang nằm viện? Tôi không có thể đem thiết bị đến phòng bệnh. Thật khó cho tôi tin rằng bác sĩ y khoa trong bệnh viện trường đại học tiên tiến nầy sẽ công nhận hađô như loại thuốc khác có thể chữa được bệnh. Thậm chí nếu tôi có khả năng đem thiết bị nầy đến bệnh viện, tôi sẽ bị đuổi ra nếu họ tìm thấy. Tôi bảo người đàn ông là tình thế thật khó xử cho tôi.
Lần nầy ông trở lại văn phòng tôi với người mẹ của bệnh nhân. Hai người nầy khẩn khoản tôi đo hađô cho con gái bà. Lòng khẩn nài kiên trì của họ làm tôi xúc động và tôi cảm thấy rằng tôi phải đo hađô của cô bằng cách nào đó và sẽ làm nước hađô cho cô. Đột nhiên, một ý tưởng chợt đến với tôi.
Tôi hỏi: “Bà có thể vui lòng chụp hình con gái bà và đem đến cho tôi được không?” Như được chỉ dẫn, bà mẹ lấy hình cô và đem đến cho tôi. Tôi có khả năng đo hađô của cô bằng cách đặt tấm hình trên máy hađô.
Tấm hình của cô cho biết là cô hiện đang ở trong tình trạng lo lắng rất nhiều. Như tôi đề cập ở chương trước, lo lắng thường biểu thị những vấn đề liên quan đến bao tử. Bà mẹ nói thêm rằng con gái bà mới đây từng bị nôn mửa nghiêm trọng và không thể ăn uống gì. Câu trả lời nầy khuyến khích tôi. Tôi cảm thấy tin chắc rằng tôi sẽ có khả năng thu thập thông tin về bệnh tình của cô ta, cho dù cô ta không có khả năng đến văn phòng tôi.
Ngay lập tức tôi chuẩn bị nước hađô để điều chỉnh hađô của cô. Mỗi lần đến gặp tôi, mẹ cô tiếp tục đem hình mới và tôi tiếp tục làm nước hađô cho cô.
Trong trường hợp người phụ nữ trẻ nầy, có nhiều sự quấy nhiễu khắp cơ thể cô do hậu quả của hóa trị. Cô uống nước hađô sẽ hủy hađô không ưa thích và hóa trị của cô tiếp tục tốt đẹp. Sau nhiều đợt hóa trị, cô được xuất viện. Cô trở lại trường. Tôi nghe rằng bây giờ cô đang làm việc như một bác sĩ y khoa.
Qua nhiều kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm nầy, tôi trở nên được thuyết phục rằng nước phải đọc được thông tin từ những tấm hình và những mẩu tự rồi thay đổi phẩm chất của nó cho phù hợp.
Điều kỳ diệu của những tấm hình tinh thể nước đá là chúng làm cho giả thuyết của tôi có hiệu lực. Thật ra, tôi cũng có giả thuyết rằng nước còn có khả năng thu nhận vào cả danh tánh mang thông tin. Để chứng minh giả thuyết nầy tôi thực hiện thí nghiệm một lần trong đó với nhiều tên khác nhau như Mẹ Teresa và Adolph Hitler – được viết và dán lên chai nước rồi sau đó chụp hình tinh thể nước. Kết quả như tôi mong đợi. Những tấm hình tôi chụp được phản ánh những cảm xúc liên kết với người có tên đó. Nói cách khác, danh tánh cũng có hađô. Tôi đính cả những tấm hình nầy trong những cuốn sách hình của tôi trong quá khứ.
Tuy nhiên, mới đây tôi thôi không làm việc ấy nữa, bởi vì, giả dụ một cá nhân khác tình cờ có tên trùng với một tội phạm, như thế không có nghĩa rằng người nầy cũng là tội phạm! Vì vậy, chúng tôi không chụp hình nữa, cũng không xuất bản những tấm hình tinh thể từ những danh tánh của người ta.

Cuộc hội chẩn hađô cho cô gái mắc bệnh bạch cầu cấp tính

Vào ngày 24 tháng 4 năm 1996, tôi được mời làm việc với một cô bé gái, lúc đó mười bốn tuổi, mới đây bị mắc bệnh bạch cầu. Câu chuyện hơi dài dòng, nhưng tôi thích chỉ cho bạn thấy tiến trình hồi phục của cô bé dựa trên những gì cô ta tường thuật. Tôi chỉ có ý định trình bày năng lượng thực sự của hađô cho độc giả hiểu sâu hơn.
Cô bé được ông Noboru Suzuki chuyển đến từ một bác sĩ y học khác, chữa trị đặc biệt bằng cách chạm tay (1). Không may, bây giờ ông đã qua đời, nhưng ông hẳn nổi tiếng trong lãnh vực nầy của ông. Ông Suzuki sống ở Hokkaido và chúng tôi đã nhiều lần gặp gỡ. Chúng tôi rất hợp nhau và thường trao đổi thông tin.
Một hôm ông Suzuki liên lạc với tôi và nói: “Mới đây tôi gặp một cô gái mắc bệnh bạch cầu, nhưng bệnh cô vượt tầm hiểu biết của tôi. Ông vui lòng giúp cô ấy được không?” Tôi không biết tôi có thể giúp cô ấy trong chừng mức nào, nhưng tôi không thể nói không để đáp lời thỉnh cầu của ông Suzuki. Vì cô ấy sống ở Tokyo, thật thuận tiện cho cô ấy đến văn phòng tôi. Vì vậy tôi gặp cha mẹ cô, đem tấm hình cô con gái họ đến.

Theo lời họ, cô gái chưa nhập viện. Thỉnh thoảng, cô rên rỉ và dường như cô thường làm vậy khi đau đớn. Họ không chắc cho cô gái nhập viện là tốt. Tấm hình cô được chụp ở nhà. Dùng tấm hình, tôi đo hađô của cô.
Trước hết, tôi đo thông tin di truyền học của cô. Tôi sẽ trở lại điểm nầy sau với nhiều chi tiết hơn, nhưng có nhiều trường hợp trong đó thông tin di truyền học kế thừa từ tổ tiên gây ra sự bất thường trong rung động của một người. Do đó, tôi cảm thấy thật cần thiết để kiểm tra thông tin di truyền của cô gái.
Kiểm tra nầy cho biết nỗi lo sợ bị ung thư của cô. Cảm xúc nầy ảnh hưởng tiêu cực những tuyến bạch cầu. Tôi kết luận rằng cô ta cần hađô làm yên nỗi lo sợ ấy. Thành kiến là một cảm xúc khác được phát hiện trong cô. Cảm xúc nầy ảnh hưởng tiêu cực đến phổi. Vì vậy một hađô khác được cần để hủy cảm xúc thành kiến nầy. Cảm xúc tiếp theo là e lệ. Điều nầy phải được xóa đi, vì ảnh hưởng tiêu cực đến tim của cô. Sau đó là buồn. Bằng cách nầy, tôi đã kiểm tra thông tin di truyền của cô trên mười bảy mục. Kết quả như vậy hẳn là trầm trọng rồi!
Sau khi kiểm tra về thông tin di truyền của cô, tôi kiểm lại tình trạng hiện thời của cô như là ăn không ngon miệng, mắc tiểu huyết cầu, hêmôglôbin và phổi. Sau khoảng ba tiếng đồng hồ kiểm tra, tôi chuẩn bị nước hađô cho cô ta và trao cho cha mẹ cô.
Đồng thời, tôi giới thiêụ rằng họ nên đưa cô gái đến bệnh viện chữa trị, vì tình hình của cô rất nghiêm trọng. Hôm sau, cha mẹ cô đưa cô nhập viện tại bệnh viện nhi khoa quốc gia. Sau khi uống nước hađô, cô gái bị khó thở. Đây là một trong những phản ứng thông thường người ta hay gặp phải sau khi uống nước hađô, nhưng không có gì cần phải lo lắng. Tôi xem phản ứng ấy như là một chức năng làm bước ngoặt cho sự tiến triển tốt hơn.
Một tuần sau, vào ngày 3 tháng 3, cha mẹ cô đến văn phòng tôi lần thứ nhì đem theo bức ảnh của cô gái. Họ báo tôi rằng vì hêmôglôbin của cô giảm, cô phải được điều trị cho chứng đó suốt tuần qua. Thuốc lợi tiểu cũng được dùng vì tích lũy dịch trong bụng cô và vi khuẩn giảm nhờ thuốc kháng sinh. Cô gái không thể ăn được, cho nên cô đang nhận dưỡng chất bằng cách chuyền đạm. Cũng cho thấy có triệu chứng vàng da trên cơ thể cô.
Lần nầy, tôi kiểm tra xem thử trạng thái tâm lý nào đang tác động mạnh nhất hiện nay của cô – thì được biết, cô gái đang rất lo sợ và sầu buồn. Tôi chuẩn bị nước hađô để hủy những cảm xúc nầy.
Tôi đưa nước hađô nầy một ngày năm lần. Vì cô gái không thể uống nước trực tiếp từ ly được, cha mẹ cô phải nhỏ từ một đến hai mililít một lần dưới lưỡi bằng cách dùng ống tiêm. Nếu người có thể uống nước, tôi thường yêu cầu họ pha loãng nước hađô rồi uống năm lần một ngày tổng cọng 800 đến 1000 mililít một ngày.
Khi cha mẹ cô đến lại lần thứ ba vào ngày 7 tháng 3, họ đem tin vui đến cho tôi. Nước hađô mới dường như có hiệu quả tốt cho cô gái. Xét nghiệm ngày mồng 5 vừa qua cho thấy tổng số tế bào bạch huyết cầu của cô cao từ 2.300 giảm xuống chỉ còn 900. Chứng vàng da biến mất và những chức năng phổi và tim của cô đã có dấu hiệu tốt.
Tuy nhiên, dịch còn tích lũy quanh tim cô và cô hiện cũng bị thiếu máu nữa. Vì thế vào lúc đó tôi chuẩn bị nước hađô khác cho cô ta.
Sau khi uống nước hađô nầy, sức khỏe cô bắt đầu tiến triển khá hơn. Chất dịch quanh tim cô giảm và cô không còn cần chuyền đạm qua tay và chân phải nữa. Mãi cho đến lúc đó, cô phải được chuyền đạm vào ba vị trí, nhưng bây giờ cô chỉ cần chuyền ở tay trái thôi.
Khi tôi làm lại tiến trình chuẩn bị nước hađô cho cô ta uống và kiểm tra lại tình trạng hiện thời để làm nước hađô mới cho cô ta, tổng số tế bào bạch huyết cầu không còn đáng ngại nữa. Cô được phép tạm thời về nhà từ ngày 22 đến 29 tháng 4 và lại đến bệnh viện, ngày 3 tháng 5 thì lại được về nhà. Cha mẹ cô báo rằng nét mặt cô thay đổi đáng kể từ vẻ trống vắng đến mỉm cười.
Đồng thời khi cô nhận nước hađô tôi chuẩn bị, cô cũng nhận những chữa trị ở bệnh viện. Tôi tin cả hai phương pháp đều giúp cô gái bình phục.
Tuy nhiên, vào giữa tháng 5, cô ta bắt đầu chịu hậu quả phụ của thuốc chống ung thư mạnh nên tóc bắt đầu rụng. Thật là một cú sốc cho cô gái tuổi thiếu niên. Lần sau nữa, khi tôi kiểm tra tình trạng tâm lý của cô, cho thấy cô vẫn còn nhiều cảm xúc phức tạp như cô độc, thất vọng, ưu sầu, nóng tính và rất cáu kỉnh. Tất nhiên, phải mất một thời gian dài mới có thể đối trị được loại cảm xúc phức tạp ấy. Uống nước thuốc hađô, trong trường hợp nầy, sức khỏe của cô không thể phục hồi ngày một ngày hai được. Vì có nhiều quấy nhiễu trong cơ thể cô, chúng tôi cần điều chỉnh từng lúc từng quấy nhiễu một và chúng tôi tiếp tục tiến trình nầy hẳn là lâu. Tôi chuẩn bị nước hađô và cô ta uống; tôi làm nước hađô mới và cô ta dùng. Chúng tôi lập lại tiến trình nầy cả thảy mười một lần.
Tôi sẽ không bao giờ quên kết quả kiểm tra vào ngày 7 tháng 12. Chính cái ngày đó lần đầu tiên cô ta đến gặp tôi tại văn phòng. Tôi đã gặp cô chỉ qua những tấm hình, bây giờ cô đang đứng đó trước mặt tôi. Đó là cuộc gặp gỡ rất xúc động.
Lần kiểm tra trước vào ngày 7 tháng 9 và đã ba tháng từ đó, sự rung động của cô gái đã thay đổi như thế nào? Ngay lập tức tôi bắt đầu dùng thiết bị hađô để thu thập thông tin của cô một cách trực tiếp. Cô vẫn còn nhiều cảm xúc mạnh như sợ hãi, kinh hoàng, sợ mất tự chủ, bị áp lực, cáu kỉnh, sợ chết, và tâm trạng căng thẳng.
Nước hađô được chuẩn bị ắt hẳn đã làm việc thực sự tốt cho cô, nên tình trạng sức khỏe của cô bắt đầu tiến triển nhanh. Thật ngạc nhiên làm sao, cô được xuất viện vào ngày 19 tháng 12!
Từ đầu năm sau, chúng tôi kiểm tra sức khỏe cô một tuần một lần. Vào ngày 7 tháng 2 năm sau, cô có kinh nguyệt sau khi mất một thời gian khá dài. Việc thay đổi trong cơ thể nầy làm cô gái thiếu niên hài lòng và cảm thấy lạc quan về bệnh tình của mình đã đến lúc hồi phục. Vào tháng 4 năm đó, cô theo học trường trung học và có khả năng đi học trong xe hơi của ba mẹ. Mỗi lần chúng tôi kiểm tra sức khỏe cô, cho thấy còn có một vài rung động quấy nhiễu nhưng dần dần, nó yếu đi. Cuối cùng, chúng tôi ngưng kiểm tra sức khỏe của cô.
Cô gái nầy bây giờ đã hai mươi bốn tuổi. Cô đang làm việc như một nhà phác họa. Mới đây cha mẹ cô báo tôi rằng hiện nay cô đang học cách làm sao kết hợp những kỹ thuật như là nhà phác họa của cô vào việc điều trị bệnh.

Hội ý hađô cho bé bị bệnh tim bẩm sinh

Nhiều người đến gặp tôi để bàn thảo. Lý do tôi nhận trường hợp sau đây bởi vì cách tôi gặp bé nầy thật đặc biệt, và tôi tiến hành xét nghiệm đầu tiên cho bé vào ngày 15 tháng 7 năm 1994. Bé nầy được bác sĩ gia đình bé giới thiệu.
Bác sĩ Y nói ông đến gặp tôi bởi vì ông đã đọc cuốn sách của tôi và nhận thấy tiềm năng của thuốc hađô mà tôi đang điều trị. Hôm đó, bé không đến, nhưng bác sĩ đem tấm hình bé đến, với tấm hình đó tôi tiến hành khảo sát.
Tấm hình bé quá đáng yêu đến nỗi bé làm tôi mỉm cười. Tôi được báo rằng bé ở thời kỳ phê bình bởi vì tiên lượng bệnh bé ắt chỉ có thể sống vài tháng. Trong thuật ngữ định bệnh y khoa phương Tây, tình cảnh của bé không chỉ phê bình mà là tuyệt vọng.
Tôi cảm thấy tình thế ảm đạm, nhưng đồng thời tâm chiến đấu dấy lên trong tôi, tôi tự bảo rằng tôi phải bảo vệ mạng sống của bé, và lắng nghe bác sĩ Y giải thích.
Bé đã được định bệnh là tim bẩm sinh, thuật ngữ gọi là tim phình trướng ấu trĩ. Khi tim phát triển bất thường, càng ngày nó càng chiếm chỗ trong lồng ngực. Cuối cùng bệnh sẽ giết chết bé. Trong nhiều trường hợp, những bé mắc bệnh nầy sẽ không sống đến sinh nhật đầu tiên của chúng.
Bé được định mắc bệnh nầy vào ngày 24 tháng 5. Xét nghiệm lúc đó cho biết rằng tim bé chiếm 68.9 phần trăm lồng ngực.
Tôi trở nên sốt ruột, bởi nhận ra rằng bé chỉ còn ba tháng trước khi tròn một tuổi. Tôi tin vào thuốc hađô, nhưng tôi có thể giúp bé đúng lúc và kịp thời không?
Như tôi đã đề cập trước, bệnh là kết quả của sự rung động bị quấy nhiễu ở mức hạ nguyên tử gây ra sự quấy nhiễu ở mức nguyên tử, rồi đến lượt tạo ra sự quấy nhiễu ở mức phân tử và cuối cùng ở mức tế bào cùng các cơ quan nội tạng. Để điều chỉnh sự rung động nầy bằng nước hađô, thì tiến trình nầy phải được tiến hành theo thứ tự ngược lai. Cần phải có thời gian. Thực ra, tôi đã từng trải qua nhiều trường hợp mà tôi không thể giúp người vì thiếu thời gian. Không để mất thời gian, tôi bắt đầu dùng tấm hình để đo sự rung động của bé ngay.
Ở mức di truyền của bé, thiết bị hađô phát hiện là bé sợ chết, tội lỗi, tuyệt vọng, nghi ngờ và ưu sầu. Tôi chuẩn bị nước hađô để hủy những cảm xúc nầy.
Lần viếng thăm thứ hai vào ngày 6 tháng 9, tức là hai tháng sau. Suốt trong thời gian đó, bé được kiểm tra ở bệnh viện và tôi được biết rằng tim bé bây giờ chiếm 54 phần trăm lồng ngực. Xét nghiệm hađô lần thứ hai cho biết kết quả là bé vẫn còn những cảm xúc tương tự như trước.
Mặc dầu tỷ lệ tim của bé hạ xuống 54 phần trăm, xét nghiệm kế tiếp cho thấy lại tăng lên 59 phần trăm. Tuy nhiên, nói chung, tình trạng sức khỏe của bé tiến bộ khá lạc quan, có thể có khả năng tổ chức sinh nhật lần đầu tiên cho bé vào ngày 15 tháng 10.
Xét nghiệm hađô cho bé lần thứ ba cho biết một loạt các trạng thái tâm lý còn tồn đọng khá phức tạp: Ấy là thiếu kiên nhẫn, lãnh đạm, cô độc, thành kiến, tâm trạng căng thẳng, quá sợ hãi, bị áp lực, lo lắng, nghi ngờ, chèn ép, mệt mỏi, hoảng loạn, chần chừ và tự thương thân. Tuy nhiên, do nước hađô được chuẩn bị lúc đó ắt hẳn có tác dụng tốt cho bé, bởi vì tình cảnh bé tiến triển đến mức bé được xuất viện. Từ đó, tôi kiểm tra sức khỏe bé một tháng một lần và chuẩn bị nước hađô mỗi lần cho bé. Khuynh hướng phình trướng của tim bé giảm dần, và tỷ lệ xuống đến chỉ còn 30 phần trăm.
Vào ngày 23 tháng 4 năm 1996, kiểm tra sức khỏe bé lần thứ hai mươi lăm, tôi nhận được tin tốt nhất có thể. Bé đã được xét nghiệm ở bệnh viện tuần trước và nhịp tim bé đã trở lại bình thường. Đây là lần cuối tôi gặp bệnh nhân nầy. Tuy nhiên, tôi hứa nỗ lực khi bé cần tôi giúp lại.
Bác sĩ Y, bác sĩ gia đình của bé, trở nên quan tâm hơn vào thuốc hađô. Thậm chí ông viết một bài báo góp vào tập san chúng tôi. Trong bài nầy, ông bày tỏ nhiệt tình tôn trọng ân đức của cả hai thuốc phương Tây và thuốc hađô và trở thành cái cầu giữa chúng.

Những tình trạng đã từng cho là di truyền

Di truyền liên hệ đến thông tin truyền đến một người từ cha hay mẹ và cũng từ tổ tiên lâu đời. Thông tin về tổ tiên được viết rõ trong từ gien. Những thông tin của tổ tiên có những điểm tốt khác, nhưng không may, cũng gồm điểm xấu.
Trong chuyện bệnh tật, những cảm xúc tiêu cực của tổ tiên được truyền sang như những thông tin tiêu cực thường được biểu hiện về vật lý. Đây là lý do tại sao tôi thường bắt đầu khảo sát thông tin di truyền học của bệnh nhân khi thực hành xét nghiệm hađô.
Người ta thường dùng thuật ngữ “dòng gia đình ung thư”. Có lẽ gia đình như thế nầy mang những triệu chứng liên hệ tạo những cảm xúc có thể có khả năng gây ung thư từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Đây là cách tôi hiểu riêng về thuật ngữ “di truyền”.
Ngoại trừ bệnh gây ra do vi rút và sóng điện từ, phương pháp thuốc hađô cần thời gian bởi vì chúng tôi phải hiểu đúng thông tin di truyền của bệnh nhân và hủy những hậu quả của nó từng thứ một. Thông tin của nhiều thế hệ được tích trữ trong nhiều tầng. Tôi tin rằng có mười hai tầng trong cơ thể con người. Chúng ta phải đi qua từng tầng một để đối tác thông tin hầu có thể khởi sự chữa bệnh.
Cách đây nhiều năm, một cặp vợ chồng tham dự chuyên đề của tôi kể với tôi rằng con gái thứ hai của họ đang khốn khổ vì loại ung thư ruột kết đang tăng dần. Điều trị khoa học kể cả thuốc hađô đã giải quyết tận căn trường hợp của cô và bệnh ung thư đang tiến triển trong cô đã được dứt.
Ba năm sau, đứa con gái thứ nhất được chẩn đoán là ung thư não. Trong một thời gian ngắn, cả hai đứa con gái của họ bị ung thư. Cha mẹ chúng quá thất vọng. Cảm xúc tiêu cực của những người quanh họ chẳng giúp gì cho bệnh nhân khỏe được. Chúng tôi quyết định xét nghiệm hađô của cô.
Tôi lo ngại làm sao tôi nói với cha mẹ cô về kết quả của thông tin di truyền mà thiết bị hađô đo được. Nếu tôi chỉ đơn giản nói với họ: “Thông tin tiêu cực được truyền lại từ đời trước” thì có thể tôi đã làm cho họ bối rối không cần thiết. Vì vậy tôi nghĩ không nên báo cho họ toàn bộ thông tin chi tiết về xét nghiệm và kết quả, chỉ nên cho họ biết một tí thông tin cần thiết mà thôi.
Cha cô, rời văn phòng tôi sau khi lắng nghe tôi nói, trở lại ngay và nói: “Được, tôi tự hỏi nếu những điều ông nói xảy ra là giống với điều được viết ở đây”. Nói thế xong, ông chỉ tôi một bản dày lấy từ tạp chí học thuật. Nó có tựa đề “Bình minh của sự thực hiện trong đời: Sự tiến bộ của khoa học nghiên cứu về tái sinh ảnh hưởng như thế nào đến nhân sinh quan của con người?” Bài báo nầy được tiến sĩ Fumihiko Iida, giáo sư trợ lý tại trường Đại Học Fukushima, Phân Khoa Kinh Tế viết.
Chỉ đọc những đầu đề nhỏ của bài báo, tôi nhận ra rằng những gì tiến sĩ Iida muốn thông tin đúng với những gì tôi đã và đang thực hiện. Tôi gật gật đầu: “Đúng vậy! Đúng vậy! Đây là những gì tôi muốn nói. Tốt, trường Đại Học Fukushima là trường đại học có tiếng trong nước. Thời gian chắc chắn thay đổi, phải vậy không? Bây giờ không một giáo sư nào của trường đại học như thế dám táo bạo trình bày loại bài vở nầy trong một tạp chí học thuật nghiêm túc!”
Tôi không thể không ngạc nhiên khi thấy báo của ông được xuất bản một cách gan dạ nơi chỉ có thuốc Tây là được xem trọng!

Bệnh tật phản ứng với cảm xúc tiêu cực

Thật quan trọng làm sao chúng ta nên sống đời tích cực!
Tôi hẳn là người lạc quan. Tôi đã từng rất bận rộn từ khi tôi bắt đầu nghiên cứu. Đặc biệt suốt trong mấy năm qua, một năm tôi chỉ có năm ngày hay ít hơn để nghỉ. Thời gian trôi qua tôi không thấy. Hôm kia, tình cờ tôi nhận ra mình đã trở thành một ông già sáu mươi tuổi!
Trong xã hội nơi tôi sống, tôi đủ tuổi để nghỉ hưu; tuy nhiên, tôi không có ý định từ bỏ cuộc sống năng động của tôi. May mắn thay, tôi nhận được nhiều lời mời diễn thuyết từ nhiều nước khắp nơi trên thế giới. Mặc dầu thường du hành quanh thế giới để diễn thuyết, tôi cảm thấy thể chất tôi vẫn mạnh khỏe đủ để đánh vật ngay cả người trẻ hơn.
Thái độ lạc quan chính là nguồn năng lượng thể chất của tôi. Trái lại, những ai suy nghĩ tiêu cực có khuynh hướng dễ bị sinh bệnh. Thực ra, nhiều người đến gặp tôi để chữa trị bằng hađô là những người không biết làm sao mất thăng bằng trong chiều hướng tiêu cực. Lý do thường là suy nghĩ tiêu cực cộng hưởng với những nhân tố tiêu cực, chẳng hạn vi rút và mời chúng nhập vào.
Vào khoảng cuối những năm 1980, tôi đang suy nghĩ rằng cảm giác cô độc liên quan đến cá ngựa của não – vì nó chịu trách nhiệm về trí nhớ. Tôi cũng nghĩ rằng chất nhôm liên quan đến chứng mất trí. Mặc dầu tôi dùng thiết bị hađô để phân tích, tôi vẫn được thuyết phục rằng – chúng (nhôm và chứng mất trí) có những mối tương liên, tương quan rất mạnh, rất chặt chẽ.
Cảm giác cô độc ảnh hưởng tiêu cực đến cá ngựa; cho nên, sự rung động nội tại của cá ngựa bị quấy nhiễu. Tôi tìm ra rằng tần số rung động của cá ngựa bị quấy nhiễu cộng hưởng với tần số rung động của nhôm. Tôi đoan chắc rằng, chính bởi vì thừa nhôm bị tích lũy ở cá ngựa làm ảnh hưởng đến trí nhớ.
Cuối cùng Hội Tâm Thần của Mỹ và những nhà nghiên cứu khác xuất bản những tờ báo về sự liên hệ giữa nhôm và bệnh tâm thần – và như thế, chính họ đã chứng thực giùm cho giả thuyết của tôi.
Cũng vậy, những cảm xúc tiêu cực thường cộng hưởng với vi rút. Chúng ta hãy lấy cảm lạnh làm thí dụ. Ở trường tiểu học, một lớp bị buộc đóng cửa vì lạnh khủng khiếp. Tuy nhiên lớp khác ở cùng một trường không có nhiều em vắng mặt, và hầu hết chúng học rất chăm chỉ. Trường hợp như thế thường phát sanh nơi này và nơi khác không phải là cá biệt.
Một trong những nguyên nhân bị cảm lạnh là do vi rút. Nếu trường hợp đó là vậy, thì nguy cơ bị cảm lạnh giống nhau khắp trường sao? Tại sao không phải vậy? Tôi tin tưởng chìa khóa cho câu trả lời nó nằm nơi các trạng thái tâm lý và các loại ý thức khác nhau tác động.
Lớp A có nhiều em có khuynh hướng suy nghĩ tiêu cực. Bởi vì chúng nghe tin tức rằng năm nay cái lạnh sẽ rất khủng khiếp, chúng nghĩ về cái lạnh mọi lúc và tự hỏi thật khiếp làm sao cái lạnh sắp đến chắc chúng sẽ bị cảm lạnh. Bị ảnh hưởng bởi những em nầy, những em khác cũng bắt đầu nghĩ về cái lạnh. Vì thế, chúng bị chi phối chung các tâm lý tiêu cực. Trái lại, lớp B tình cờ có nhiều em lạc quan, và không ai nghĩ về cái lạnh. Chúng đang nhớ những chương trình truyền hình vui nhộn đã xem đêm trước hay cảm thấy rằng, chúng có thể hưng phấn chờ đến giờ ăn trưa. Vì thế, chúng được bao trùm năng lượng của những tâm lý tích cực.
Lớp nào dễ có khả năng có nhiều em bị đau hơn, lớp A hay lớp B? Câu trả lời đã rõ. Tính cách Kanji nghĩa là tiêm nhiễm gồm hai yếu tố tâm lý cảm thấy và bị nhiễm.
Ý nghĩ tiêu cực cộng hưởng với những tác nhân tiêu cực nữa làm tình thế tệ hại hơn. Điều nầy không chỉ giới hạn ở bệnh hoạn. Người ta thường tự tử sau khi đọc loại tài liệu tự vẫn nào đó. Cách đây khoảng hai mươi năm, thần tượng thiếu nữ ở Nhật Bản tự tử. Chẳng bao lâu sau khi tin nầy lan ra, nhiều đứa con trai đã đi theo viên đạn chì của cô bé. Và khi một sự kiện giết hại bất ngờ xảy ra, bóng ma đó dường như ảnh hưởng đến những người khác – và ở đâu đó người ta cũng làm như vậy.
Ví dụ cuối cùng sẽ là tai nạn máy bay. Tại sao tai nạn máy bay xảy ra hàng loạt? Có thể rằng phi công lo sợ, trục trặc kỹ thuật, và hành khách hợp lại thành hình một hađô khổng lồ và kích thích tai nạn kế tiếp? Tại sao ta không thể đặt câu hỏi như thế chứ?
Để sống đời mạnh khỏe, chúng ta hãy giữ vững tư tưởng, quân bình tâm lý và cảm xúc. Tôi không phải là bác sĩ y khoa, nhưng tôi tin rằng tất cả bác sĩ nên vừa là những triết gia vừa là những người chữa trị. Chính sự sáng suốt tinh tế và lòng trắc ẩn của bác sĩ đã có khả năng chữa lành bệnh cho bệnh nhân rồi!
Khi bệnh nhân có thể dẹp đi những cảm xúc tiêu cực, họ sẽ có khả năng vựợt lên khả năng tự chữa bệnh. Ngày xưa, bác sĩ là những người có liên hệ sâu sắc trong tôn giáo, chẳng hạn linh mục và xa man (2). Như họ đã làm trong quá khứ, nếu bác sĩ có thể giúp bệnh nhân chữa lành và đạt được tâm an bình, thì cộng hưởng của bệnh nhân với bệnh tật sẽ dứt.

Tại sao hội chứng viêm phế quản cấp tính trầm trọng (SARS) xảy ra

Cách đây vài năm, một vi rút mới mà con người chưa bao giờ gặp phải trước đây trở nên lan tràn khắp nơi – đó là bệnh SARS (bệnh viêm phế quản cấp tính trầm trọng).
Thành thật mà nói, tôi cảm thấy vi rút nầy đã được thấy trước. Tôi quan niệm nó như là vi rút đến trong đời nầy bởi tình trạng yếu kém, xuống cấp của trái đất.
Như tôi đã đề cập trong chương 1, dân số thế giới xấp xỉ 1 tỷ rưỡi vào năm 1900. Bây giờ hơn 6 tỷ. Dân số thế giới một năm sau Công Nguyên được biết là 180 triệu. Điều nầy có nghĩa là dân số phát triển chỉ 1 tỷ 3 suốt trong 1.900 năm trong lúc nó tăng nhiều đến 4 tỷ rưỡi suốt trong một trăm năm qua. Thật đáng ngạc nhiên.

Nếu chúng ta quan niệm trái đất như một cơ thể sống, chúng ta có thể hiểu rằng cơ thể khổng lồ nầy đang đau khổ vì sự rung động bị quấy phá do nạn dân số bùng nổ, nó gia tăng nhiều áp lực. Nếu trái đất được so sánh với một thân người, sự quấy nhiễu đến sự rung động của nó ắt hẳn tiến xa hơn sự quấy nhiễu ở mức hạt hạ nguyên tử, nguyên tử hay phân tử. Có lẽ nó đạt đến tầng tế bào, hay còn hơn thế nữa, ngay cả sự rung động của các bộ phận trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng đáng kể.
Do đó, chúng ta phải thừa nhận bi đát rằng, sự miễn nhiễm và năng lực tự chữa bệnh của trái đất đã bị giảm sút đáng kể trong thời đại công nghiệp này. Khi sự miễn nhiễm thấp đi cùng với những cảm xúc tiêu cực – sự lo lắng của mọi người trong toàn xã hội – thật dễ bị cộng hưởng với vi rút có cùng một tần số.
Vào năm 2003, trong lúc Canada đang bị nhiễm bệnh SARS và một số người đã tử vong, tôi viếng thăm nước nầy, nơi một thành phố bị ảnh hưởng trầm trọng nhất. Trong lúc ở đó, ý tưởng nầy đã đến với tôi.
Tôi liên lạc với văn phòng tôi ở Tokyo và chỉ dẫn họ chụp hình những tinh thể nước mới. Tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi bày những từ “hội chứng viêm phế quản cấp tính” cả tiếng Anh và tiếng Nhật cho chai nước không yên thấy.
Bình thường, nước “không yên” sẽ hình thành tinh thể. Thực ra, trước khi chúng tôi bày những từ nầy cho nước thấy, nước hình thành những tinh thể. Điều gì xảy ra cho nước sau khi thấy những từ đáng sợ nầy?
Như được mong đợi, sau khi nước được cho thấy những từ nầy (SARS) cả tiếng Anh và tiếng Nhật, nó chỉ hình thành những hình dạng kỳ quái, khác xa những tinh thể đẹp. Tên của bệnh nầy chứa thông tin tiêu cực mạnh đến nỗi ngăn nước không hình thành những tinh thể.
Làm xong thí nghiệm nầy xong, vào lúc bấy giờ tôi quyết định tiến hành một thí nghiệm khác. Chúng tôi cho một mẩu thông tin mới đến cùng một thứ nước đã thay đổi phẩm chất của nó sau khi được cho thấy tên của bệnh nầy – là một thông tin có tính tích cực.
Chúng tôi lột tờ giấy “hội chứng viêm phế quản cấp tính trầm trọng” ở chai ra và dán vào đó với nhãn hiệu “yêu thương và tri ân”. Chúng tôi làm nhãn nầy cả tiếng Nhật và tiếng Anh.
Kết quả là, nước hình thành những tinh thể lại. Cả hai mẩu nước được cho cùng một thông tin tích cực bằng tiếng Nhật và tiếng Anh cho ra những tinh thể đẹp (xem hình 3.1).
Có lẽ có nhiều người thấy khó mà tin những kết quả chúng tôi trình bày ở đây và ai đó có thể nói: “Ắt hẳn có sự trùng hợp ngẫu nhiên!” Hay: “Ông nói láo !”. Tuy nhiên, đó là sự kiện có thực không thể từ chối được. Nước thay đổi phẩm chất ngay tùy theo thông tin bày ra cho nó thấy.

Chú tâm vào là cách cho năng lực!

Bởi vì trường hợp sau đây được giải thích trong cuốn sách của tôi The Hidden Messagesin Water, (Beyond Words, Xb. năm 2004) một số độc giả có thể nhớ nó. Ở đây tôi trích dẫn từ cuốn sách đó.
Một gia đình đặt tạp chí dài hạn của chúng tôi tiến hành một thí nghiệm thú vị. Họ bỏ cơm vào trong hai hũ thủy tinh và hằng ngày nói “Cám Ơn” với một hũ và hũ kia là “Mày Ngu” trong suốt một tháng, rồi họ theo dõi cơm thay đổi như thế nào trong thời gian đó. Ngay cả bọn trẻ khi đi học về cũng nói những lời nầy với hũ cơm.
Sau một tháng, cơm được bảo “Cám Ơn” bắt đầu lên men, có mùi ngọt dịu như mạch nha, trong lúc cơm được bày cho thấy “Mày Ngu” lại lên mốc và biến thành màu đen (xem hình 3.2).
Tôi viết về thí nghiệm nầy trong cuốn “Messages from Water, quyển 1” và xuất bản – sau đó như cùng một kết quả là hằng trăm gia đình khắp đất nước Nhật Bản tự thực hành cùng một thí nghiệm nầy. Mọi người đều tường thuật kết quả giống nhau. Một gia đình thử một thí nghiệm khác, như những người khác, họ nói “Cám Ơn” với hũ cơm thứ nhất và “Mày Ngu” với hũ thứ hai và rồi họ chuẩn bị một hũ cơm thứ ba và chỉ phớt lờ không hề đếm xỉa đến nó.
Bạn nghĩ điều gì xảy ra? Cơm bị phớt lờ thực sự bị mốc trước khi cơm cho thấy từ “Mày Ngu”. Khi những người khác thử cùng một thí nghiệm nầy, kết quả lại cũng giống nhau. Như thế dường như bị chế nhạo thực sự không tai hại bằng thái độ bị phớt lờ.
Kết quả của thí nghiệm nầy có ý nghĩa rất quan trọng. Điều cay đắng nhất trong đời là bị phớt lờ và không được quan tâm đến. Bạn quan tâm đến vật gì là cách bạn cho nó năng lượng. Mấy người trồng cây kể với tôi rằng trong lúc tưới cây, nếu bạn nói chuyện với chúng, chúng sẽ lớn nhanh và cho ra nhiều hoa đẹp hơn. Nhờ nhận được sự quan tâm, đời có thể nhận năng lượng để chuyển theo hướng tốt hơn.
Xã hội loài người cũng giống như vậy. Do kinh tế lề mề, cấu trúc hóa trở nên việc thường xuyên thực hành giữa nhiều công ty cổ phần Nhật. Những công ty nhẫn tâm đẩy nhân công cho là không cần thiết ra khỏi những hoạt động chính của công việc họ. Vẫn còn có nhiều công ty vô lương tâm hơn đặt nhân công trong phòng cấu trúc hóa và không cho họ công việc thực sự nào cả. Từ viễn cảnh đó họ dễ bị chủ chửi mắng thậm tệ hơn.
Không có tình trạng nào khắc nghiệt hơn bị đặt vào tình thế mà bạn không có việc gì để làm và chẳng có ai để nói chuyện cùng. Khi họ không có khả năng chịu đựng lâu hơn tình thế như vậy, họ tình nguyện rời khỏi công ty. Có những trường hợp xấu nhất đẩy đưa họ đến tự tử.
Chúng ta hãy nghĩ ngược lại. Nếu chúng ta muốn nhân công của chúng ta làm việc tốt, hãy nói chuyện với họ một cách thoải mái để động viên họ. Nếu chúng ta muốn kỷ luật con cái của chúng ta, hãy nói đôi điều tích cực và gây cảm hứng cho chúng.
Nếu chúng ta bị đau ốm hay có thương tích, hãy đối xử tử tế với những tế bào bị thương tổn. Chú tâm trọn vẹn đến phần bị tổn thương, nó sẽ được phục hồi nhanh. Nên nhớ rằng chúng ta có khả năng sống đời mạnh khỏe bằng cách quan tâm đến phần nào đó của thân ta – và chúng ta nên cảm ơn về điều đó.
Nếu nhiều người đau ốm quanh chúng ta, chúng ta hãy nói vài lời với họ. Có thể là sự quan tâm, có thể là vài lời an ủi. Hãy nhận thấy rằng họ đang góp phần làm cho đời sống chúng ta thêm phong phú. Chúng ta hãy hết lòng động viên họ bằng những lời tích cực. Nhờ vậy, chúng ta có thể làm cho họ chóng bình phục hơn.

Năng lực lời nói của chúng ta

Nước nhạy cảm đáp ứng lời chúng ta nói. Khi chúng ta gởi hađô tốt đến cho nước bằng cách nói lời tích cực với nước, nước sẽ cho chúng ta những tinh thể đẹp. Cũng vậy những lời cầu nguyện của chúng ta phóng ra năng lực và thay đổi phẩm chất của nước và như vậy nước đạt được năng lực có thể trả lời những lời cầu nguyện của chúng ta.
Làm việc nầy cần có trực giác đặc biệt. Chúng ta có thể gởi hađô mạnh hơn bằng cách dâng những lời cầu nguyện của chúng ta ở thì quá khứ hơn thì tương lai. Ví dụ chúng ta hãy giả sử rằng một em bé có mẹ bị ung thư cầu nguyện vào nước cho mẹ bé bình phục: “Con mong bệnh ung thư của mẹ con sẽ được chữa lành”. Tôi không cho lời cầu nguyện như vậy là dở. Chắc chắn hađô của người cầu nguyện ảnh hưởng đến nước. Cầu cùng một chuyện nhưng dùng lời khác có thể là cách có hiệu quả hơn để thay đổi phẩm chất của nước: “Bệnh ung thư của mẹ con đã được chữa lành”.
Từ quan điểm văn phạm nghiêm túc mà nói, thì quá khứ không có nghĩa vì sự kiện chưa xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm tư tưởng và ý định chúng ta mạnh mẽ hơn bằng cách nói nó ở thì quá khứ hơn là nói ở thì tương lai. “Sẽ được chữa lành”, mang năng lực yếu; nhưng thì quá khứ “đã được chữa lành” có thể truyền thông ý chí mạnh mẽ của chúng ta một cách khẳng định hơn. Khi chúng ta dâng lời cầu nguyện, điều quan trọng nên có một hình ảnh cao cả về một đấng nào đó mà chúng ta tin tưởng, khi đó chúng ta nói lời cầu nguyện.
Tưởng tượng một điều gì nghĩa là chúng ta đang cầu nguyện có kết quả cuối cùng. Hãy giả sử chúng ta muốn trở thành Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc khi chúng ta lớn lên nên chúng ta nói: “Tôi sẽ trở thành Tổng thư ký LHQ”. So sánh câu nầy dùng trong thì tương lai, với câu nói bằng cách khẳng định với thì quá khứ: “Tôi đã trở thành Tổng thư ký LHQ” thì rõ ràng câu sau mang thông tin tích cực hơn. Lúc ấy, chúng ta đang tưởng tượng chính mình ba mươi hay năm mươi năm sau chủ tọa một cuộc họp của Liên Hiệp Quốc, có thể hy vọng sống đời phục vụ nhiều hơn. Điều nầy có thể được cụ thể hóa sau khi hình ảnh được thành hình.
Hình ảnh tôi đang thảo luận ở đây là niềm hy vọng của chúng ta. Chúng chính là hình dạng thông tin tích cực. Khi chúng ta lập đi lập lại thông tin nầy với những lời mạnh mẽ, đương nhiên nước sẽ giúp chúng ta. Từ kinh nghiệm của tôi, chứng tỏ rằng, nói to bằng lời phát ra năng lực hađô mạnh hơn là viết ra trên giấy.
Tôi không phải là người có đạo, cũng không muốn ca ngợi đạo một cách không cần thiết. Tuy nhiên lời nguyện cầu được đạo sư thực hiện một thời gian dài có năng lực hađô rất mạnh. Tôi cảm thấy rằng nếu chúng ta tin vào đạo (tín ngưỡng của mình) một cách chân thành và đọc những lời cầu nguyện một cách tự nhiên, chúng ta sẽ được ban phước có năng lực mạnh.
Một lần tôi chứng kiến một vị đạo sư nguyện cầu làm một lượng nước khổng lồ thay đổi phẩm chất. Tôi viếng thăm vị thầy cả Honki Kato của chùa Phật giáo Bí truyền Nhật, khi nghe tin người đọc thần chú và cầu nguyện tại đập nước Fujiwara trong quận Gumma. Thầy đã từng đọc thần chú và cầu nguyện như vậy nhiều lần. Tôi thấy những tấm hình của hồ chứa nước ở đập Fujiwara nầy được chụp trước và sau khi lễ cầu nguyện. So sánh màu sắc hai tấm hình trước và sau – ta nhìn khác hẳn nhau.
Khi tôi thực sự quan tâm, tôi hỏi thầy Kato, liệu thầy có cho phép tôi lần sau đi với thầy khi thầy làm lễ hay không? Thầy gật đầu đồng ý.
Trước khi thầy bắt đầu cầu nguyện, chúng tôi lấy mẩu nước tại hồ chứa. Thầy Kato bắt đầu đọc chú và cầu nguyện. Thế rồi, trong bầu không khí trang nghiêm, thầy tiếp tục công việc tôn nghiêm của mình trong khoảng một tiếng đồng hồ.
Sau khi cuộc lễ chấm dứt, lúc tôi đang nghe thầy nói chuyện với vài người, có lẽ khoảng mười lăm phút sau đó – nhân viên cùng đi với tôi chợt reo lên “Ồ! Nhìn kìa, màu nước bể đang thay đổi nhanh!”
Quả thực, nước trong bể chứa lớn đang trở nên trong hơn. Điều ai cũng thấy là trước khi cầu nguyện, không có sự phản ánh trên mặt nước, vì nước có nhiều bùn bẩn. Bây giờ cây cối quanh đó phản ảnh lên mặt nước thành những hình sắc cạnh, chứng tỏ nước đã thay đổi phẩm chất, ánh xanh và ngời sáng. Chúng tôi có cụm từ kotodama, nghĩa là oai lực của lời nói trong tiếng Nhật. Hẳn rõ ràng lời của thầy Kato ắt có oai lực kotodama đó. Tôi đang mục kích năng lực và oai lực trong hành động – lời cầu nguyện của thầy Kato!
Chúng tôi đã thu góp mẩu nước sau lễ cầu nguyện đem về Tokyo, nơi chúng tôi sẽ chụp hình tinh thể nước.
Cho dù chúng tôi thường thử nhiều lần, không có tinh thể nào được hình thành từ mẩu nước trước khi cầu nguyện. Trái lại, nước sau khi cầu nguyện hình thành tinh thể có vẻ đẹp thiên thần! Nó có hai cấu trúc: Một lục giác nhỏ bên trong lục giác lớn bên ngoài, đều đặn, tinh vi trông rất hoàn hảo (xem hình 3.3). Tinh thể nầy cũng đã được in trên trang bìa cuốn sách của tôi: “The Hidden Messages in Water”.

“Yêu thương và tri ân” tăng cường sự miễn nhiễm

Để làm “nước tốt”, chúng ta bắt đầu lấy ít nước không yên, nếu có thể. Chúng tôi có thể chụp hình tinh thể nước đá từ nước không yên mà không làm gì đặc biệt cho nó cả. Điều nầy có nghĩa nước tốt và sạch. Tuy nhiên, không thể dễ dàng để lấy nước không yên. Trong trường hợp đó, nước vòi bình thường có thể chấp nhận được.
Vui lòng dâng lời cầu nguyện đến nước trong chai. Nếu chúng ta có thể đọc chú và cầu nguyện như thầy Kato, người đã thay đổi nước trong bể ở đập Fujiwara, thì tốt nhất. Tuy nhiên thật khó lòng cho chúng ta – là những người phàm tục đọc kinh – thì làm thế nào để có thể có “những lời có oai lực” như thầy Kato đã làm được? Bởi chúng ta không được tập luyện đặc biệt, không phải là kẻ tu hành, lại thường bị nhiều ý nghĩ không được tốt lành hoặc nhiều chuyện khác lao xao quấy nhiễu.
Vì vậy, đơn giản hơn, chúng ta hãy nói chuyện với nước thôi, cũng có hiệu quả. Nếu bạn có điều mong ước, bạn hãy nói với nó như một lời nhấn mạnh trong thì quá khứ, như tôi đã giải thích trước, trong lúc tưởng tượng điều mong ước của bạn được thành tựu.
Một cách lý tưởng, bạn hãy đọc lớn lên lời cầu nguyện của bạn một cách liên tục. Tuy nhiên, cách nầy không thực tiễn cho những người bận rộn thời nay để đọc lời cầu nguyện của họ với nước vài giờ mỗi ngày. Vậy, tôi đề nghị rằng, bạn viết ra trên giấy và dán nó vào chai để chữ đối diện với chai hầu nước bên trong có thể đọc được những lời đó. Hay hơn nữa, thỉnh thoảng bạn nói chuyện với nước và sau đó, lúc lắc cái chai làm hoạt hóa nước và góp phần vào sự rung động.
Chỉ bằng cách làm những điều nầy, bạn có thể làm nước hađô cho cá nhân bạn. Tôi đề nghị hằng ngày bạn uống năm ly nước ấy.
Điều gì bạn nên làm nếu bạn không có mong ước đặc biệt nào? Điều tốt nhất là bày cho nước thấy từ “Yêu thương và tri ân” và nói chuyện với nước.
Trong một thời gian dài, tôi từng cho nước nhiều mẩu thông tin và chụp hình tinh thể. Chúng tôi cho nước nhiều mẩu thông tin tích cực như khi chúng tôi nghĩ về – những từ đẹp, hình phong cảnh đẹp và nhạc du dương (tốt, lành mạnh) – để chụp hình tinh thể. Tất cả đều đẹp, nhưng tinh thể đẹp nhất đối với tôi là tinh thể hình thành sau khi nước được cho thấy từ “Yêu thương và tri ân”.
“Yêu thương” là tuyệt đối, và “tri ân” là tương đối. Tôi chợt cả nghĩ rằng, tính tuyệt đối là năng lực năng động, và tính tương đối là năng lực thụ động.
Chỉ khi chúng ta có người nhận, chúng ta có thể để tâm trí vào hành động ban tặng. Cho dù bạn cố gắng nhiều đến mấy đi nữa để ban tặng tình yêu của bạn, mà không có người nhận, thì bạn sẽ không thể làm được. Đó là ý của Tạo Hóa. Mặt trời đang ở bên ban phát và mặt trăng là ở bên thọ nhận. Đây là sự thật trong tình yêu nam nữ và với hành động tương quan dâng tặng đến sự sản sinh cuộc đời mới. Những điều nầy cũng có thể hoạt động được khi có người nhận.
Những tinh thể nước trình bày cho chúng ta thấy ý của Tạo Hóa một cách tuyệt diệu; và cũng từ đó, chúng ta có thể nắm bắt khái quát được mọi hiện tượng xảy ra trên cuộc đời cũng y như vậy.
Không đơn thuần là yêu thương, không đơn thuần là lòng tri ân; mà chỉ khi hai điều nầy cùng hợp lực với nhau, chúng mới có thể biểu thị những hoạt động của Tạo Hóa.
Tôi mới nhận ra rằng có lẽ không có thông tin nào tốt hơn hai từ nầy mà chúng đã mang nghĩa nội hàm. Tỷ lệ của nước là một đối với hai, ôxygen với hydrogen (H20). Học từ tỷ lệ nầy, tôi dám mạo muội tin rằng nước tốt, có nghĩa là một phần yêu thương (0) và hai phần tri ân (H2).

 

 

___________________________________________

Chú thích:

 

(1) Không rõ nghĩa hành động này.

(2) Xa man: Tìm không ra nghĩa.