Hai hiện tượng bất thường

05/09/2012 | Chuyên mục: SÁCH . 7335 Lượt xem

HỒI THỨ SÁU

(Ông ta kết luận)

 

 

Đây là phần kết luận Thiền Minh Triết của ông.

Đầu tiên ông đưa ra vài ví dụ cụ thể một số người đã đến hỏi ông, nghe ông giảng, tu theo ông rồi có được “hạnh phúc bất tận”.

Tôi sẽ “tận tình” mổ xẻ từng điểm.

Ông “điềm đạm” kể lại rằng:

“Trong nhiều năm tháng thầy nghe nhiều người nói rằng: “Con ăn chay trường và tu Thiền rất nhiều năm, ít nhất là trên mười năm với các thầy thì cũng hiểu được thế nào là Phật tính nhưng cứ chờ đợi sự chứng ngộ thật sự, nhưng chờ mãi, chờ hoài vẫn chẳng thấy gì mới. Tuy nhiên, chúng con đã lỡ tu rồi nên cứ phải chờ đợi sự chứng ngộ, mặc dù nhiều khi cũng cảm thấy chán ngán lắm!”

Quý vị thấy sao? Cách nói này, dựng đứng câu chuyện này thì chỉ có những người “ngoại đạo” mới tin! Tại sao vậy? Ăn chay trường thì tốt rồi, tu Thiền nhiều năm thì tốt rồi! Nhưng tại sao không cho biết luôn là tu Thiền gì, Minh sát, Đông độ, Zen hay Trúc Lâm Yên Tử? Rồi thầy nào, có thầy Thiền nào mà dạy cho học trò “chờ đợi Phật tính” như người ngu nước Tống ôm cây đợi thỏ? Thắp đèn giữa ban ngày cũng không tìm ra ông thầy “gà mờ” ấy! Tại sao? Tại vì, dù là ông thầy Thiền dở nhất, tệ nhất, ngốc nhất (xin lỗi các ông thầy vô danh, tôi đã nói nặng là vì mạch văn cần thiết) cũng biết Thiền là quán, là nhìn ngắm, là lắng nghe thân tâm trong ngoài khi đi đứng, nằm ngồi, ăn nói, ý nghĩ, tư tưởng cùng những sinh hoạt liên hệ trong đời sống. Ai cũng biết là “trực chỉ lắng nghe mình”. Chẳng có ai “chờ đợi Phật tính” trong bất cứ một trường Thiền, một lớp Thiền nào cả! Thầy trò ông đã vu oan cho “tông môn Thiền, tông chỉ Thiền, tinh yếu Thiền” trên khắp thế giới đó, ông có biết không? Hãy nuốt cái lưỡi của ông lại đi! Thêm một tội “vu không với miệng lưỡi + rắn rít”. Một địa ngục nữa đó!

“Đặc biệt gần đây, Thiền sinh Nguyễn Đức Luân, mười sáu tuổi, Phật Tâm Danh là Duy Nguyện, cùng bố và mẹ là Không Tuệ và Tuệ Thiêng từ Việt Nam qua Mỹ để học Thiền với thầy đã đặt ra câu hỏi này: “Thưa thầy, mình tu Thiền như vậy bao lâu sẽ chứng được đạo? Nếu lâu quá chắc tuổi trẻ như chúng con sẽ không theo được.”

Chỗ này tôi sực nhớ chuyện ông thầy thuốc bán thuốc dổm, muốn quảng cáo thần dược của mình, ổng thuê một chục người, hai chục người viết giấy chứng thực, tôi bệnh như vậy, tôi đau như vậy nhưng đi khắp nước, hằng trăm thầy Đông Tây y đều không chữa khỏi – nhưng khi tôi uống “thần dược” này, bệnh tôi lành hẳn chỉ trong “một thang”, người tôi da dẻ hồng hào, tười trẻ như tuổi thanh xuân nữa chứ. Đúng là thần y, đúng là thần dược!

Ông Duy Tuệ đã làm đúng bài bản lắm lắm! Đáng khen vậy thay!

“Thầy trả lời rằng: “Thật ra, không có gì để chứng cả. Mục đích hành Thiền không phải để thành chính quả. Sự thật rất quan trọng, hết sức quan trọng trong việc thực hành Thiền là để Thiền giả hình thành một thói quen có lợi toàn diện về đời sống tinh thần và thể chất. Do vậy, phải thường xuyên thực hành Thiền để thói quen ngày càng nhuần nhuyễn, và ngay trong thói quen thánh thiện này sẽ cho Thiền giả niềm vui và hạnh phúc bất tận bên trong , không bao giờ chấm dứt và rất ổn định. Thói quen này sẽ phát triển đời sống Minh Triết hoàn hảo! Nó cũng đem lại cho bạn nhiều may mắn và bình an!

Duy Nguyện reo lên vì thấy vấn đề rất nhẹ nhàng là chuyển từ mục tiêu Thiền để chứng quả sang mục tiêu thực hành Thiền là tạo một thói quen tốt đẹp, làm cho tính tích cực trong con người phát triển. Duy Nguyện hứa sẽ ra sức thực hành vì nó đem lại kết quả ngay: hình thành thói quen tỉnh thức và xua tan ý nghĩ, ‘đây là thói quen mà con thích và có lợi cho con trong cuộc sống và học tập!”

Tóm lại, phương pháp Thiền thầy chia sẻ không có mục tiêu chứng ngộ mà là hình thành thói quen thụ hưởng sự làm chủ của tỉnh thức đối với cái đầu đã, đang và sẽ tiếp tục tự do tung hoành suy nghĩ, quấy nhiễu tạo ra cảnh khổ đau giả tạo cho tinh thần. Từ thói quen này, Thiền giả sẽ có tất cả những niềm vui, hạnh phúc thật sự và tinh thần rất ổn định.

Những kiến thức bổ sung để gúp chúng ta mở rộng và vào sâu không gian Minh Triết”.

Đoạn văn dài phía trên, ta chỉ rút ra 3 điểm:

– Sự thật quan trọng: Hành Thiền là để Thiền giả hình thành một thói quen có lợi toàn diện về đời sống tinh thần và thể chất.

– Phải thường xuyên thực hành Thiền để thói quen ngày càng nhuần nhuyễn.

– Hình thành thói quen thánh thiện này (tức là thói quen thụ hưởng sự làm chủ của tỉnh thức) sẽ cho Thiền giả niềm vui và hạnh phúc bất tận.

Vậy là đã rõ, cứu cánh của Thiền Minh Triết là hình thành một thói quen, nhuần nhuyễn thói quen thánh thiện là thụ hưởng sự làm chủ tỉnh thức sẽ đem đến niềm vui và hạnh phúc bất tận – tức là “lạc” trường cửu.

Chư vị thức giả, trí giả đã thấy ông tà sư này lộ ra đuôi cáo, đuôi chồn chưa? Thói quen lâu ngày tích lũy, nhuần nhuyễn nó sẽ tạo nên một “cái đà năng lực”, một quán tính, và đây chính là “nghiệp” của tất thảy chúng sanh. Tôi sẽ có ví dụ cho cái thói quen, cái quán tính này.

“Hôm kia, cảnh sát bắt nhốt 3 người: Một tay đánh bạc, một tên nghiện hút, một bợm rượu. Mấy ngày sau được thả. Tay đánh bạc tìm ngay đến sòng bài. Tên nghiện hút chạy tìm cô tiên nâu. Bợm rượu thì mò đến quán ma men!”

Đây là do thói quen lâu ngày hình thành một năng lực, rất mạnh. Ai đẩy chúng đi? Chính do năng lực thói quen, năng lực quán tính, năng lực nghiệp đẩy chúng đi. Chúng sanh ba cõi sáu đường đều bị chi phối bởi định luật này. Tâm nào cảnh nấy. Và đó cũng là nhân, cũng là quả. Chẳng có thượng đế nào, tạo hóa nào xen dự vào đấy cả.

Vậy, Thiền Minh Triết của Duy Tuệ không nhằm thấy rõ bản chất như thực của pháp để chấm dứt tất cả khổ đau phiền não – mà là để hình thành thói quen, hình thành quán tính, hình thành nghiệp!

Nhưng mà nghiệp mà ông ta muốn nói là nghiệp gì vậy? Là thói quen thụ hưởng sự làm chủ của tỉnh thức!  Ồ, hay tôi đọc nhầm? Không phải! Thư ký nhầm hay ông Duy Tuệ nói nhầm?

Tỉnh thức là “công cụ” của tuệ tri, tuệ giác – nhờ nó quan sát, nhìn ngắm, lắng nghe ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên nên thấy được sự vận hành duyên khởi của thân, tâm, của lục căn, lục trần, lục thức… Tất cả chúng chỉ là duyên khởi, vì duyên khởi nên vô ngã. Chẳng một mảy tâm, một mảy may pháp nào là thực tính, là hiện tồn vô tận hay trường cửu; nói theo khoa học vật lý lượng tử thời đại hạ nguyên tử ngày nay, thì chúng chỉ tồn tại trong kỳ gian sinh diệt của phần tỷ giây đồng hồ! Cũng chính nhờ “công cụ” này mà tuệ giác thấy rõ cái “thực tánh vô tự tánh”, cái “tánh không” (suññatā) của mọi sự, mọi vật – sẽ không còn bám víu chấp thủ của những ngã ái, ngã kiến nữa. Tâm và trí lúc ấy là cả một miền trong lặng, một tấm kiếng trong vắt, các pháp vẫn đến, vẫn đi, ý nghĩa, tư tưởng cũng lui, cũng tới – nhưng đều được phản ánh một cách chân xác và trung thực, như-mà-nó-là – là thế giới của “tịch diệt hiện tiền” chứ không phải là “thói quen thụ hưởng sự làm chủ của tỉnh thức”- sẽ cho Thiền giả “niềm vui và hạnh phúc bất tận”! Đây là cái kiểu lấy nhân mà làm quả, mà cái quả ấy cũng là quả trong sinh tử đúng như các Nikāya đều có nói: “Khổ và lạc là căn bản của phiền não”, ở đây còn là “cái lạc” bất tận nữa chớ! Hay ông có sờ đến cái “thường, lạc, ngã, tịnh” của cảnh giới phạm thiên?

Ông còn muốn giảng thêm:

“Không gian mình triết là gì?

 Khó có thể định nghĩa chính xác được, nhưng nay tôi nói theo ngôn ngữ của riêng mình, cốt sao giúp quý vị đạt được hạnh phúc chân thật. Tất cả mọi định nghĩa hay khái niệm tôi dùng theo cách riêng là nhằm giúp cho quý vị tiếp cận được với cõi phúc lạc chân thật, với năng lượng tình thương dồi dào, và mãn nguyện với đời sống làm người của mình trên hành tinh này”.

Chỉ lặp lại ý ở trên.

“Quý vị cứ tưởng tượng trong đầu óc, bộ não của mình có rất nhiều hộp (box) để chứa những gì mình thấy, nghe, nghiên cứu học hỏi được. Có hộp chứa kiến thức, chứa kinh nghiệm, chứa các hình ảnh xảy ra trong quá khứ, hộp chứa lòng ham muốn, sự ích kỷ, lòng vị tha, năng lượng yêu thương có điều kiện, sự tưởng tượng, cái nhìn thực tế rõ ràng, sự đánh giá, sự hồn nhiên, sự thành kiến, sự ngạo mạn, hách dịch… hộp chứa sự khiêm tốn, hờn ghen, giận dữ, đau buồn, lỗi lầm, hối hận, sợ hãi và hộp chứa sự kiên nhẫn, yêu thương chân thành… Những hộp này cũng dễ thấy và cũng có thể lấy ra dùng hằng ngày, tuy hơi khó”.

Hóa ra, cái không gian Minh Triết của ông ta là nơi cất chứa những cái hộp, tạm chia có hai loại, là hộp đựng cái xấu ác và hộp đựng cái lành tốt. Mặc dầu ông dùng nhiều danh từ, nhiều tính từ, nhiều hình dung từ nhưng vẫn thiếu khi muốn nói đến các trạng thái tâm và tâm sở. Chỗ này, đã hơn hai nghìn rưởi năm trước, đức Phật đã nói rồi, ở trong Vi diệu pháp. Trong đó nói ít, nhưng lại đầy đủ, bao quát hơn nhiều. Nó đặc như mật cô lại, và dường như ông đã pha loãng ra, nhạt nhẽo, nhạt thếch để làm của mình, nói là do mình sáng tạo, do mình mười năm suy ngẫm tìm ra, là không gian Minh Triết của riêng mình!

Đi sâu vào lãnh vực này tôi ngại “thuật ngữ kinh điển”, cũng ngại mất thì giờ của chư vị lắm! Nói tóm gọn là chúng có 52 trạng thái tâm lý xấu ác, lành tốt và cả trung tính – chi phối toàn bộ đời sống tâm sinh lý chúng sanh. Ông Duy Tuệ cố gắng nghiên cứu Abhidhamma thì sẽ thấy. Đã kinh khiếp, rợn ngợp kho tàng Pháp Bảo của Phật chưa mà lại dám coi khinh, chê bai đức Pháp trong lúc ông chỉ mới đụng tới cái ngoài da! Trong 52 trạng thái tâm lý ở trên, có 25 tâm sở lành tốt – cũng chưa được gọi là Minh Triết. Nó tốt đẹp thật, cao sáng, cao thượng thật, ở cánh giới vi diệu thật – nhưng chưa thấy thực tánh, giải thoát đâu. Minh Triết Phật ở cái cõi mà không bao giờ ông với tới được, đó là thế giới vô vi, vô lậu, vô niệm, vô tâm, vô cấu, vô dục, vô chấp, vô tác, vô hành, vô đối, vô không, vô ngã – ngay chính trong đời sống này, sự sống này, hơi thở này, hiện tiền “đương xứ tức chân” này – chứ không phải ở kiếp sau hay cõi Niết-bàn ảo tưởng xa xăm vị lai nào đó!

Tất cả 52 yếu tố tâm lý ấy là có thể khái quát toàn bộ tâm của nhân loại, của tât thảy mọi chúng sanh, xưa cũng như nay. Những yếu tố cả lành tốt, cả xấu ác – chúng không có sẵn trong tâm như cái kho để cất giữ, hoặc lấy ra để dùng như ông Duy Tuệ nói. Dù ông có sử dụng phương tiện ngôn ngữ đi nữa thì điều đó cũng đã sai lầm, tà kiến từ căn bản – vì ông chưa thấy duyên khởi vô ngã tánh. Tất cả chỉ là duyên khởi. Minh sát là quán cái vận hành duyên khởi này. Một tâm lành tốt khởi lên – là duyên cho những tâm sở lành tốt khởi theo. Tâm xấu ác cũng vậy. Ông Duy Tuệ không hề nhắc đến duyên khởi, không biết gì về duyên khởi – cái quan trọng, cốt tủy để từ đó đức Phật thiết lập nền tảng giáo pháp, thuyết giảng 45 năm, sau hình thành Tam Tạng. Ông Duy Tuệ chỉ biết làm “rỗng đầu óc”! Cụm từ này đúng, khá hay – nhưng cách làm của ông sai, do không thấy không biết duyên khởi, do không có tuệ giác để “tư duy vô ngã tính” nên mọi phương pháp của ông đều chỉ là những cách đối trị tầm thường, dẫn người ta đi vào ngõ cụt, đụng đầu bức tường duy vật hoặc duy tâm ấu trĩ và ngốc ngếch! Ông muốn vô hiệu hóa nó; ông không cũng cấp nguyện liệu cho đầu óc – vậy nên không có suy nghĩ, vì không có đối tượng, đối tượng bị triệt tiêu, vì suy nghĩ là cái gì suy nghĩ và suy nghĩ cái gì mới được chứ? Khởi niệm mới duyên khởi, mới thấy các pháp, mới thấy ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên. Còn ông không khởi gì cả, không thấy gì cả. Tôi xin lặp lại, quả là “tri bất tri, thượng”!

Tặng ông câu thơ cổ điển của vị Thiền sư nào đó:

“- Bách xích can đầu, trực hạ thùy

Nhất ba tài động vạn ba tùy

Dạ tĩnh, thủy hàn ngư bất thực

Mãn thuyền không tải nguyệt minh quy!”

Câu này, một tác giả vô danh dịch:

“ Đầu cần trăm thước buông câu

Một làn sóng gợn, nối nhau muôn lằn

Đêm nước lạnh, cá không ăn

Con thuyền trống rỗng chở trăng đi về!”

Tôi thì dịch:

“- Trăm thước đầu cần thỏng điếu ông

Một làn sóng dợn, dợn muôn trùng

Giá băng, đêm lặng, khôn tăm cá

Về chở đầy thuyền ánh nguyệt không!”

Một niệm khởi là duyên vạn trùng khởi. Đêm lặng, nước giá lạnh, cá không ăn mồi! Vị Thiền sư thấy duyên khởi căn trần – nên tu Thiền định, đóng bít các căn – không cho “căn ăn trần” nữa. Từ đó mới tu Thiền tuệ, mới “mãn thuyền không tải nguyệt minh quy”!

Ông Duy Tuệ chưa thấy thế giới duyên khởi nhưng ông có những cái hộp với những yếu tố tâm lý có sẵn rồi đem cất trong đó! Cũng hay nhỉ? Ta chờ xem!

“Chờ xem đóng bít trong, ngoài

Vô tri, vô trí là loài giống chi?”