Dhammapada – Kinh Lời Vàng

15/02/2013 | Chuyên mục: KINH . 27417 Lượt xem

Chương XXIV

TAṆHĀVAGGA

(Phẩm Ái Dục)

 

 

334.
Biết chăng ái dục lòng người
Dây leo nẩy tược, dể duôi khác nào!
Kiếp này, kiếp khác bám vào
Vượn kia ham trái, thấp, cao chuyền cành!

Manujassa pamattacārino
taṇhā vaḍḍhati māluvā viya,
So plavati hurāhuraṃ
phalaṃ icchaṃ va vanasmi vānaro.

 

335.
Ai người khắng khít đê hèn
Buông lung ái dục, đua chen dối lừa
Cỏ bīraṇa gặp mưa
Muộn phiền nảy nở, dây dưa dính chùm!

Yaṃ esā sahatī jammī
taṇhā loke visattikā,
sokā tassa pavaḍḍhanti
abhivaṭṭhaṃ va bīraṇaṃ.

 

336.
Ai người thiện trí đời này
Tự điều các dục, tự xây thành trì
Như nước kia chảy trượt đi
Lá sen chẳng đọng, sầu bi nào còn?

Yo cetaṃ sahate jammiṃ
taṇhaṃ loke duraccayaṃ,
sokā tamhā papatanti
udabindu va pokkharā.

 

337.
Như Lai thường dạy các con:
Về đây tụ họp, lòng son tín thành
Dục tham bứng gốc cho nhanh!
Như đào lấy rễ cỏ tranh khác gì
Đừng để Ma Vương khinh khi
Như cơn tràn lũ cuốn đi rác bèo!

Taṃ vo vadāmi bhaddaṃ vo
yāvantettha samāgatā,
taṇhāya mūlaṃ khaṇatha
usīrattho va bīraṇaṃ,
Mā vo naḷaṃ va soto va
māro bhañji punappunaṃ.

 

338.
Cây kia dẫu bị chặt rồi
Còn nguyên chùm rễ, vẫn chồi nẩy lên
Nếu chưa nhổ “ái tùy miên”
Muộn sầu sanh mãi, tương duyên, tương tồn!

Cây kia dẫu bị chặt rồi
Còn nguyên chùm rễ, nẩy chồi lớn mau
Nếu chưa diệt “ái ngủ sâu”
Nó còn sống mãi, khổ sầu sống theo!

Yathāpi mūle anupaddave daḷhe
chinno pi rukkho punareva rūhati,
evampi taṇhānusaye anūhate
nibbattatī dukkhamidaṃ punappunaṃ.

 

339.
Ba mươi sáu ái (1) hướng dòng
Bởi do tư tưởng, bởi lòng hỷ tham (2)
Si mê, tà kiến thế gian
Theo cơn thác lũ, ngập tràn cuốn đi!

Yassa chattiṃsati sotā
manāpasavanā bhusā,
vāhā vahanti duddiṭṭhiṃ
saṅkappā rāganissitā.

 

340.
Than ôi! Ái dục chảy lan
Day leo bìm quấn, mọc tràn khắp nơi
Trí nhân thấy rễ, thấy chồi
Mài gươm tuệ nhãn bén ngời chém phăng!

Savanti sabbadhi sotā
latā ubbhijja tiṭṭhati,
tañca disvā lataṃ jātaṃ
mūlaṃ paññāya chindatha.

 

341.
Mỗi khi ái dục phát sanh
Ngũ trần chờ sẵn cuốn nhanh người vào
Mong tìm hỷ ái khác nào
Sanh, già chờ sẵn – gai rào túm chân!

Saritāni sinehitāni ca
somanassāni bhavanti jantuno,
te sātasitā sukhesino
te ve jātijarūpagā narā.

 

342.
Kẻ bị ái dục buộc ràng
Thỏ nằm trong rọ, kinh hoàng xiết bao!
Mong chi tính chuyện bôn đào
Thúc thằng (3) quấn xiết, khổ lao nhiều bề!

Tasiṇāya purakkhatā pajā
parisappanti sasova bandhito,
saṃyojanasaṅgasattakā
dukkhamupenti punappunaṃ cirāya.

 

343.
Kẻ bị ái dục buộc ràng
Thỏ nằm trong rọ, kinh hoàng xiết bao!
Sa-môn thấy rõ khổ lao
Viễn ly ái dục, mở rào, tự do!

Tasiṇāya purakkhatā pajā
parisappanti sasova bandhito,
tasmā tasiṇaṃ vinodaye
bhikkhu ākaṅkhantaṃ virāgamattano.

 

344.
Đã tìm vui chốn rừng già
Để mong thoát khỏi căn nhà thế gian
Nhưng kìa! Chúng lại lộn quàng!
Mái xưa trở lại, buộc ràng hơn xưa!

Yo nibbanatho vanādhimutto
vanamutto vanameva dhāvati,
taṃ puggalametha passatha
mutto bandhanameva dhāvati.

 

345.
Bậc trí đã dạy như vầy:
Dùng gai hay sắt làm dây chẳng bền!
Nhưng lòng bám víu bạc tiền
Vợ con, vàng ngọc – cố kiên hơn nhiều!

Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā
yadāyasaṃ dārujaṃ pabbajaṃ ca,
sārattarattā maṇikuṇḍalesu
puttesu dāresu ca yā apekkhā.

 

346.
Bậc trí đã dạy như vầy:
Sự trói buộc nọ là dây quá bền!
Dẫu tơ mảnh, dẫu lụa mềm
Vấn quấn, vẫn siết, trược phiền thế gian
Xuất gia: Chẳng tiếc, chẳng màng
Cắt lìa, tận diệt, lên đàng thảnh thơi!

Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhū dhīrā
ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ,
etampi chetvāna paribbajanti
anapekkhino kāmasukhaṃ pahāya.

 

347.
Những ai tham ái đắm say
Sẽ rơi trở lại loay hoay giữa dòng
Nhện giăng lưới, tự sa tròng
Bậc trí cắt đứt, rỗng không, khước từ!

Ye rāgarattānupatanti sotaṃ
sayaṃkataṃ makkaṭako va jālaṃ,
etampi chetvāna vajanti dhīrā
anapekkhino sabbadukkhaṃ pahāya.

 

348.
Quá khứ, hiện tại, vị lai
Thảy trôi đi hết, xa ngoài dặm không!
Bỏ thế tình, thoát qua sông
Sao còn lặn hụp giữa dòng tử sinh?

Trôi đi! Dĩ vãng trôi đi!
Tương lai cũng vậy, chẳng gì, trôi luôn!
Hiện tại theo nước chảy suông
Chẳng gì chứa giữ, vui buồn thoảng xa!
Ôi nhân sinh, kiếp người ta!
Phủi chân tất cả, bước qua cõi này!
Sao đành sanh tử vướng vây?
Bờ kia giải thoát, nước mây thanh bình!

Muñca pure muñca pacchato
majjhe muñca bhavassa pāragū,
sabbattha vimuttamānaso
na punaṃ jātijaraṃ upehisi.

 

349.
Người kia tư tưởng chẳng lành
Nuôi lớn dục lạc, nảy sanh tâm hồn
Ái tham như nước thông nguồn
Nước càng chảy mãi, ái duồn tăng thêm
Là dây trói buộc chắc bền
Mà Ma Vương đã xỏ xiên tặng đời!

Vitakkapamathitassa jantuno
tibbarāgassa subhānupassino,
bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati
esa kho daḷhaṃ karoti bandhanaṃ.

 

350.
Người kia vui thích niệm lành
Chế ngự dục lạc nảy sanh tâm hồn
Ái tham, cắt mạch nước nguồn
Nước kia khô cạn, ái còn ẩn đâu?
Bứt dây trói buộc hai đầu
Ma Vương ngơ ngác, trước sau khó tìm!

Vitakkūpasame ca yo rato
asubhaṃ bhāvayate sadā sato,
esa kho byantikāhiti
esa checchati mārabandhanaṃ.

 

351.
Tới đích, sợ hãi bỏ xa
Dục tham lưu lạc, không nhà mà nương!
Mũi tên sanh tử chẳng vương,
Thân này thân cuối, biết phương nào tìm?

Mục tiêu vị ấy đạt rồi
Gỡ hết lo sợ, gỡ mồi dục tham
Mũi tên sinh tử bắn quàng!
Thân này chẳng dính, biết đàng nào truy?

Niṭṭhaṅgato asantāsī
vītataṇho anaṅgaṇo,
acchindi bhavasallāni
antimoyaṃ samussayo.

 

352.
Ái không, chấp thủ cũng không,
Ngữ nguyên vô ngại, suốt thông tứ từ (4)
Trước sau cú pháp nhiên như
Biện tài, thiện xảo, kinh thư lòng mình
Bậc như vậy quả Vô Sinh
Vĩ nhơn, đại trí, tuệ minh khó lường!

Vītataṇho anādāno
niruttipadakovido,
akkharānaṃ sannipātaṃ
jaññā pubbāparāni ca,
sa ve antimasārīro
mahāpañño mahāpuriso’ti vuccati.

 

353.
Như Lai tất cả vượt qua
Vượt qua trói buộc căn nhà thế gian
Như Lai tất cả phục hàng
Thấy rõ tất cả hỗn mang lòng người!
Như Lai ái dục diệt rồi
Suốt thông vạn pháp, sống đời thắng tri
Thoát tất cả, chẳng vướng gì
Như Lai ai sánh, nói chi là thầy?

Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi
sabbesu dhammesu anūpalitto,
sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto
sayaṃ abhiññāya kamuddiseyyaṃ.

 

354.
Mọi thí, pháp thí vô song!
Hương thơm thù thắng, chẳng đồng pháp hương
Niềm vui “pháp hỷ” khó lường
Ái diệt tối thượng, khổ ương tận lìa!

Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti
sabbarasaṃ dhammaraso jināti,
sabbaratiṃ dhammarati jināti
taṇhakkhayo sabbadukkhaṃ jināti.

 

355.
Tài sản làm hại người mê
Nhưng không hại kẻ “kết bè” vượt sông!
Tham giàu đã hại mình xong
Còn dìm kẻ khác trong dòng nước đen!

Hananti bhogā dummedhaṃ
no ca pāragavesino,
bhogataṇhāya dummedho
hanti aññeva attānaṃ.

 

356.
Cỏ dại tai hại ruộng đồng
Ái tham nhiễm độc giữa lòng thế gian
Quý thay! Những bậc “ly tham”!
Cúng dường vị ấy, phúc vàng kết xây!

Tiṇadosāni khettāni
rāgadosā ayaṃ pajā,
tasmā hi vītarāgesu
dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

 

357.
Cỏ dại tai hại ruộng đồng
Hận sân nhiễm độc giữa lòng thế nhân
Quý thay! Những bậc “ly sân”!
Cúng dường vị ấy, phúc ân dồi dào!

Tiṇadosāni khettāni
dosadosā ayaṃ pajā,
tasmā hi vītadosesu
dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

 

358.
Cỏ dại tai hại ruộng đồng
Si mê, nhiễm độc đời không khó gì!
Quý thay! Những bậc “ly si”!
Cúng dường vị ấy, thắng tri phước mầu!

Tiṇadosāni khettāni
mohadosā ayaṃ pajā,
tasmā hi vītamohesu
dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

 

359.
Cỏ dại tai hại ruộng đồng
Ái dục nhiễm độc chẳng hòng chừa ai!
Quý thay! Dục ái bỏ ngoài
Cúng dường vị ấy, phúc đài kết hoa!

Tiṇadosāni khettāni
icchādosā ayaṃ pajā,
tasmā hi vigaticchesu
dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

 

______________________________________

Chú thích:

 

(1) Ái dục (taṇhā): 6 ái dục có từ 6 căn; 6 ái dục có từ 6 trần – tức là 12 ái dục; cộng với 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai thành ra 36 loại ái dục.

(2) 6 căn ái tham, hỷ tham ngũ trần.

(3) Thằng là sợi dây; thúc là bó buộc.

(4) Đạt tuệ phân tích, tứ vô ngại giải.