Dhammapada – Kinh Lời Vàng

15/02/2013 | Chuyên mục: KINH . 27420 Lượt xem

Chương IXX

DHAMMAṬṬHAVAGGA

(Phẩm Công Bình và Chánh Hạnh) (1)

 

 

256.
Làm quan phải biết công minh
Chẳng nên hấp tấp, lý tình chẳng phân
Cho hay là bậc trí nhân
Phải, trái thận trọng – thước, cân rõ ràng!

Na tena hoti dhammaṭṭho
yenatthaṃ sāhasā naye,
yo ca atthaṃ anatthañca
ubho niccheyya paṇḍito.

 

257.
Chớ nên thủ thuật dối gian
Phải theo pháp, luật đàng hoàng phân minh
Chẳng nên chuyên chế ép hình
Sống đúng như vậy, xứng vinh trí hiền!

Asāhasena dhammena
samena nayatī pare,
dhammassa gutto medhāvī
dhammaṭṭho’ti pavuccati.

 

258.
Nghe nhiều, học rộng chương văn
Xứng danh bậc trí giữa Tăng đoàn nầy?
Vô sân, vô úy mới hay!
Mới là cao cả, xứng tay trí hiền!

Na tena paṇḍito hoti
yāvatā bahu bhāsati,
khemī averī abhayo
paṇḍito’ti pavuccati.

 

259.
Thuộc lòng giáo pháp, nói nhiều
Mà không trì pháp, gõ kêu rỗng thùng!
Ít nghe, sở học có chừng
Mà chuyên trì pháp, danh lừng trí minh!

Na tāvatā dhammadharo
yāvatā bahu bhāsati,
yo ca appampi sutvāna
dhammaṃ kāyena passati,
sa ve dhammadharo hoti
yo dhammaṃ nappamajjati.

 

260.
Phải đâu trưởng lão sa-môn
Phải đâu đầu bạc, thượng tôn Tăng đoàn?
Tuổi cao, trí kém, ươn gàn:
“Sư già rỗng tuếch” xứng mang danh này!

Na tena thero hoti,
yen’assa palitaṃ siro,
paripakko vayo tassa
‘‘moghajiṇṇo’’ (2) ti vuccati.

 

261.
Vị nào chân lý lên đường
Tự chế ,vô hại, chẳng vương nhiễm gì
Sống đời chánh hạnh, tuệ tri
Xứng danh trưởng lão, xứng vì sa-môn!

Yamhi saccañ ca dhammo ca
ahiṃsā saññamo damo,
sa ve vantamalo dhīro
thero iti pavuccati.

 

262.
Phải đâu hùng biện đa tài
Hình dong đẹp đẽ thành người thiện lương?
Sống đời tham ái, dối lường
Thì còn xa lắm con đường trí nhân!

Na vākkaraṇamattena
vaṇṇapokkharatāya vā,
sādhurūpo naro hoti
issukī maccharī saṭho.

 

263.
Cắt đứt trọn vẹn thúc thằng
Ganh, tham, bứng gốc, ngã căn tận trừ
Diệt sân, thanh tịnh tâm tư
Người như vậy đấy, xứng từ trí nhân!

Yassa cetaṃ samucchinnaṃ
mūlaghaccaṃ samūhataṃ,
sa vantadoso medhāvī
sādhurūpo’ti vuccati.

 

264.
Cái đầu trọc lóc biết chăng
Mà không giới hạnh, nói năng vọng quàng
Lòng đầy tham vọng, dối gian
Những kẻ như vậy, xứng hàng sa-môn?

Na muṇḍakena samaṇo
abbato alikaṃ bhaṇaṃ,
icchālobhasamāpanno
samaṇo kiṃ bhavissati.

 

265.
Những ai thắng phục dục trần
Điều ác lớn, nhỏ – dần dần lặng yên
Chẳng còn nhơ bợn, ưu phiền
Mới xứng tên gọi thiện hiền sa-môn!

Yo ca sameti pāpāni
aṇuṃ thūlāni sabbaso,
samitattā hi pāpānaṃ
samaṇo’ti pavuccati.

 

266.
Chẳng vì bình bát xin ăn
Mà do an tĩnh lục căn, ngũ trần
Sống đời tri túc, tri ân
Mới là khất sĩ, dự phần sa-môn!

Na tena bhikkhu so hoti
yāvatā bhikkhate pare,
vissaṃ dhammaṃ samādāya
bhikkhu hoti na tāvatā.

 

267.
Với ai thiện, ác vượt qua
Sống đời phạm hạnh, không nhà thiêng liêng
Suốt thông thế giới đảo điên
Những người như vậy, thiện hiền sa-môn!

Yodha puññañca pāpañca
bāhetvā brahmacariyavā,
saṅkhāya loke carati
sa ve bhikkhū’ti vuccati.

 

268.
Ngu si, im lặng tịnh bình
Phải đâu ẩn sĩ, vỗ mình tự khoe?
Cầm cân thiện, ác không mê
Là bậc trí giả, danh đề xứng tên!

Phải đâu im lặng tịnh bình
Người ngu si nọ xưng mình ẩn cư?
Tốt làm, xấu lánh, ai chừ
Là bậc thiện trí, danh như thánh hiền!

Na monena muni hoti
mūḷharūpo aviddasu,
yo ca tulaṃ va paggayha
varaṃ ādāya paṇḍito.

 

269.
Chọn lành, xa ác lâu rồi
Mới là bậc trí, là người ẩn cư
Thế gian thông suốt nhiên như
Mới là hiền thánh, chân sư đời này!

Pāpāni parivajjeti
sa munī tena so muni,
yo munāti ubho loke
muni tena pavuccati.

 

270.
Tự xưng cao quý thượng lưu (3)
Mà còn giết hại, oan cừu sinh linh!?
Từ tâm, vô hại hữu tình
Mới thật cao quý, cao minh cõi người!

Tự xưng vô thượng ở đời
Máu đào họa hại, xương phơi hữu tình!?
Tâm từ rải khắp chúng sinh
Sống đời vô hại, quang minh cao hiền!

Na tena ariyo hoti
yena pāṇāni hiṃsati,
ahiṃsā sabbapāṇānaṃ
ariyo’ti pavuccati.

 

271-272.
Chỉ nhờ học rộng, biết nhiều
Đầu-đà khổ hạnh hay lều ẩn cư
Hoặc do giới luật nghiêm tu
Hay là thiền định công phu sớm chiều

Mà sinh tự mãn, tự kiêu
Tự cho hưởng phúc khước từ, viễn ly!?
Tỳ-khưu chẳng dám nói gì
Khi chưa đoạn tận tế vi não phiền!

Na sīlabbatamattena
bāhusaccena vā pana,
atha vā samādhilābhena
vivicca sayanena vā.

Phusāmi nekkhammasukhaṃ
aputhujjanasevitaṃ,
bhikkhu vissāsamāpādi
appatto āsavakkhayaṃ.

 

____________________________________________

Chú thích:

 

(1) Dhammaṭṭha: Sở dĩ tôi phải dịch là công bình và chánh hạnh – vì trong phẩm này có nhiều câu nói về công bằng và chính trực ở đời, đồng thời có nhiều câu lại nói về Pháp, Luật, đôi chỗ là Phạm hạnh.

(2) Mogha: Rỗng không; jiṇṇa: già lão, già yếu… Nên có thể dịch là “lão ngu” hoặc “lão già vô vị”; nhưng tôi dịch là “sư già rỗng tuếch” là đúng với ý của sự khiển trách trong câu này.

(3) Ảriya: Cao quý, cao thượng, quý phái… mà cũng có nghĩa là bậc thánh nhân.