Dhammapada – Kinh Lời Vàng

15/02/2013 | Chuyên mục: KINH . 23074 Lượt xem

Chương XI

JARĀVAGGA

(Phẩm Già)

 

 

146.
Sao còn thích thú vui cười
Đắm say khoái lạc khi đời lửa thiêu?
Bao trùm tăm tối muôn chiều
Không tìm đèn sáng, tiêu diêu mà về?

Ko nu hāso kimānando
niccaṃ pajjalite sati,
andhakārena onaddhā
padīpaṃ na gavesatha.

 

147.
Nhìn kia! Thể xác “mê hồn”!
Đống phân, hầm bệnh lại còn đớn đau!
Mưu toan lo trước, tính sau
Có chi bền vững mà cầu trường sanh?!

Passa cittakataṃ bimbaṃ
arukāyaṃ samussitaṃ,
āturaṃ bahusaṅkappaṃ
yassa n,atthi dhuvaṃ ṭhiti.

 

148.
Thân này sẽ bị suy già
Thường hay tật bệnh lại hòa uế nhơ
Mỏng manh mạng sống từng giờ
Tử Thần bên cửa, đợi chờ mang đi!

Parijiṇṇamidaṃ rūpaṃ
roganīḷaṃ pabhaṅguraṃ,
bhijjati pūtisandeho
maraṇantanhi jīvitaṃ.

 

149.
Mùa thu nhìn trái bầu khô
Người ta quăng bỏ vất vơ xó đường
Như bồ câu trắng, trắng xương
Quý gì, thích thú mà trương mắt nhìn?!

Yān’imāni apatthāni
alābūn’eva sārade,
kāpotakāni aṭṭhīni
tāni disvāna kā rati.

 

150.
Thành trì kẹp cốt, bó xương
Đắp thêm máu thịt, tô hường, phết son!
Mang thêm tật bệnh, tử vong
Chứa đầy ngã mạn, lại gom dối lừa!

Aṭṭhīnaṃ nagaraṃ kataṃ
maṃsalohitalepanaṃ,
yattha jarā ca maccu ca
māno makkho ca ohito.

 

151.
Xe vua đẹp đẽ dường bao
Trang hoàng lộng lẫy, hư hao đến kỳ
Thân này đến lúc lão suy
Pháp bậc Thánh Thiện, vô vi chẳng già!
Dành cho hiền trí gần xa…

Jīranti ve rājarathā sucittā
atho sarīrampi jaraṃ upeti,
satañca dhammo na jaraṃ upeti
santo have sabbhi pavedayanti.

 

152.
Kẻ kia kém học, ít nghe
Nở nang, cường tráng, to bè như trâu
Lớn lên, đống thịt lớn mau
Nhưng mà trí tuệ có đâu lớn cùng?!

Appassut’āyaṃ puriso
balivaddo va jīrati,
maṃsāni tassa vaḍḍhanti
paññā tassa na vaḍḍhati.

 

153.
Tìm trong vạn kiếp luân hồi
Vẫn không gặp kẻ xây ngôi nhà này (1)
Lang thang sinh tử đoạ đày!
Khổ đau tiếp diễn, bèo mây nghìn trùng!

Anekajātisaṃsāraṃ
sandhāvissaṃ anibbisaṃ,
gahakāraṃ gavesanto
dukkhā jāti punappunaṃ.

 

154.
Này hỡi anh thợ làm nhà! (2)
Tuổi tên, mặt mũi yêu ma thấy rồi!
Đòn dông, kèo cột gãy đôi 3)
Rui mè, tre ván, kíp thời phá tan (4)
Ta vô tạo tác lên đàng
Ái tham tận diệt, Niết-bàn thong dong!

Gahakāraka diṭṭho’si
puna gehaṃ na kāhasi,
sabbā te phāsukā bhaggā
gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ,
visaṅkhāragataṃ cittaṃ
taṇhānaṃ khayamajjhagā.

 

155.
Trẻ không sớm biết tu trì
Để dành tài sản kíp thì mai sau
Cò già ủ rũ bên ao
Cá tôm chẳng có, hư hao chết mòn!

Acaritvā brahmacariyaṃ
aladdhā yobbane dhanaṃ,
jiṇṇakoñcā va jhāyanti
khīṇamacche va pallale.

 

156.
Trẻ không sớm biết tu trì
Để dành tài sản kíp thì mai sau
Như cung vô dụng găy đầu
Nhìn về dĩ vãng, muộn sầu thở than!

Acaritvā brahmacariyaṃ
aladdhā yobbane dhanaṃ,
senti cāpātikhīṇāva
purāṇāni anutthunaṃ.

________________________________________

Chú thích:

 

(1) Ngôi nhà ngũ uẩn.

(2) Ái (Taṅhā)

(3) Thân (Kāya)

(4) Phiền não (Kilesa)